Ngáy to, giật mình hụt hơi giữa đêm và mệt mỏi vào ban sáng là nỗi ám ảnh của nhiều người thừa cân, béo phì mắc chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn. Nhiều người bệnh thắc mắc liệu việc nỗ lực giảm cân có thực sự giúp thông thoáng đường thở và đẩy lùi tình trạng ngưng thở nguy hiểm này hay không.
Câu trả lời là có. Việc giảm cân thông qua điều chỉnh lối sống, chế độ ăn hoặc phẫu thuật giúp giảm rõ rệt chỉ số ngưng - giảm thở (AHI), মূলত nhờ làm tiêu giảm thể tích mô mỡ vùng hầu họng, đặc biệt là mỡ ở lưỡi [1][2][3]. Tuy nhiên, giảm cân chủ yếu giúp hạ mức độ nặng của bệnh chứ hiếm khi đưa chỉ số thở về mức bình thường hoàn toàn nếu không kết hợp các biện pháp điều trị khác [1][4].
Cơ chế giảm mỡ hầu họng giúp mở rộng đường thở
Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) là một rối loạn giấc ngủ phổ biến, có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng béo phì [1][2]. Mức độ nặng của bệnh được đo bằng chỉ số ngưng - giảm thở (AHI), tính bằng số cơn ngưng hoặc giảm thở trung bình trong mỗi giờ ngủ; mức bình thường là dưới 5 lần/giờ, mức nhẹ từ 5 đến 14 lần/giờ, mức trung bình từ 15 đến 29 lần/giờ và mức nặng từ 30 lần/giờ trở lên [4].
Ở người béo phì mắc chứng ngưng thở khi ngủ, lượng mỡ tích tụ ở lưỡi thường gia tăng đáng kể [3]. Để làm rõ cơ chế giảm cân cải thiện đường thở, một nghiên cứu công bố năm 2020 đã tiến hành chụp cộng hưởng từ (MRI) đường hô hấp trên và vùng bụng, kết hợp đo đa ký giấc ngủ cho 67 người béo phì có chỉ số AHI từ 10 lần/giờ trở lên trước và sau can thiệp giảm cân bằng thay đổi lối sống tích cực hoặc phẫu thuật thu nhỏ dạ dày [3].
Kết quả cho thấy việc giảm cân làm giảm đáng kể thể tích các mô mềm vùng đường hô hấp trên, bao gồm mỡ lưỡi, cơ chân bướm và toàn bộ thành bên họng [3]. Trong đó, sự sụt giảm thể tích mỡ ở lưỡi là yếu tố trung gian chính giúp cải thiện chỉ số AHI, với mối tương quan chặt chẽ (hệ số tương quan Pearson rho = 0,62) và vẫn giữ ý nghĩa thống kê ngay cả sau khi đã kiểm soát yếu tố tổng trọng lượng cơ thể giảm đi (rho = 0,36) [3]. Khi lớp mỡ dày ở lưỡi và vách họng tiêu bớt, không gian hầu họng trở nên rộng rãi hơn, giảm nguy cơ sập đường thở khi các cơ giãn ra lúc ngủ [3].
Các phân tích tổng hợp nói gì về mức giảm chỉ số AHI?
Hiệu quả của việc giảm cân đối với chỉ số AHI đã được lượng hóa qua nhiều công trình tổng hợp dữ liệu lớn. Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2013 đã rà soát các nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu Medline, EMBASE và CINAHL để đánh giá tác động của chế độ ăn và vận động thể lực [1]. Phân tích từ 7 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên với 519 người tham gia cho thấy các chương trình giảm cân giúp giảm trung bình 6,04 cơn ngưng - giảm thở mỗi giờ, dù có sự khác biệt lớn giữa các nghiên cứu (I2 = 86%) [1]. Trong cùng phân tích này, 9 nghiên cứu trước - sau không đối chứng trên 250 người ghi nhận mức giảm AHI trung bình 12,26 lần/giờ, và 4 nghiên cứu trên 97 người cho thấy chỉ số giảm độ bão hòa oxy từ 4% trở lên (ODI4) giảm được 18,91 đợt mỗi giờ [1].
Mối liên hệ giữa tỷ lệ giảm cân và mức giảm AHI tiếp tục được làm rõ trong một phân tích gộp công bố năm 2024, tổng hợp 27 nghiên cứu với 32 nhánh điều trị (gồm 15 nhánh phẫu thuật giảm cân, 15 nhánh can thiệp lối sống và 2 nhánh dùng thuốc) kéo dài ít nhất 3 tháng ở bệnh nhân thừa cân, béo phì có AHI từ 15 lần/giờ trở lên [2]. Mô hình toán học cho thấy khi chỉ số khối cơ thể (BMI) giảm 20%, chỉ số AHI sẽ giảm tương ứng 57% [2]. Tuy nhiên, nếu tiếp tục giảm BMI vượt quá mốc 20%, mức lợi ích cộng thêm đối với việc hạ chỉ số AHI sẽ nhỏ dần, đồng thời khoảng dự đoán khá rộng nên chưa thể ấn định một con số tuyệt đối cho mọi cá nhân [2].
Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng trên từng nhóm bệnh
Bên cạnh các phân tích gộp, nhiều thử nghiệm lâm sàng đã đi sâu vào từng nhóm đối tượng cụ thể. Một thử nghiệm ngẫu nhiên tại 4 trung tâm công bố năm 2010 đã theo dõi 264 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bị béo phì (tuổi trung bình 61,2; cân nặng trung bình 102,4 kg; BMI 36,7; AHI trung bình 23,2 lần/giờ) trong suốt 1 năm [5]. Những người tham gia được chia ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp lối sống tích cực hoặc nhóm chỉ nhận giáo dục và hỗ trợ kiểm soát đường huyết [5].
Sau 1 năm, nhóm can thiệp lối sống giảm trung bình 10,8 kg so với mức giảm 0,6 kg ở nhóm đối chứng, kéo theo mức giảm AHI điều chỉnh là 9,7 lần/giờ so với nhóm đối chứng [5]. Đặc biệt, nhóm can thiệp lối sống có tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn cao gấp hơn 3 lần và tỷ lệ mắc ngưng thở khi ngủ mức độ nặng chỉ bằng một nửa so với nhóm đối chứng; những người giảm được từ 10 kg trở lên đạt mức cải thiện AHI lớn nhất [5].
Đối với người béo phì nặng can thiệp ngoại khoa, một nghiên cứu năm 2008 đã theo dõi 24 bệnh nhân (tuổi trung bình 47,9; 75% là nữ) trước và sau phẫu thuật giảm cân 1 năm [4]. Phẫu thuật giúp giảm BMI từ trung bình 51,0 xuống 32,1 kg/m2 và hạ chỉ số AHI từ 47,9 xuống còn 24,5 lần/giờ [4]. Dù vậy, giới hạn của phương pháp này là chỉ có 1 bệnh nhân (4%) khỏi bệnh hoàn toàn, còn tới 71% vẫn duy trì bệnh ở mức trung bình hoặc nặng, trong đó chỉ số AHI ban đầu là yếu tố dự báo mạnh nhất cho mức AHI sau mổ [4]. Toàn bộ bệnh nhân còn bệnh tồn dư đều cần thở máy áp lực dương liên tục (CPAP), nhưng điểm tích cực là áp lực khí cần thiết đã giảm từ 11,5 xuống 8,4 cm H2O [4].
Yếu tố tư thế ngủ và cấu trúc xương hàm ảnh hưởng ra sao?
Hiệu quả giảm cân không diễn ra đồng đều ở mọi tư thế ngủ và mọi cấu trúc khuôn mặt. Một phân tích năm 2017 dựa trên dữ liệu thử nghiệm ngẫu nhiên kéo dài 2 năm ở 60 người béo phì (BMI từ trên 35 đến dưới 55) mới chẩn đoán ngưng thở khi ngủ dưới 6 tháng (AHI từ 20 lần/giờ trở lên), được chia đều vào nhóm ăn rất ít năng lượng hoặc nhóm phẫu thuật đặt đai dạ dày nội soi [6].
Kết quả theo dõi trên 37 người cho thấy mức giảm tỷ lệ phần trăm AHI khi ngủ không nằm ngửa lớn hơn đáng kể so với khi nằm ngửa (-54,0% so với -33,1%) [6]. Sau giảm cân, có 8/37 bệnh nhân (22%) đạt chỉ số AHI hoàn toàn bình thường (dưới 5 lần/giờ) ở tư thế không nằm ngửa, so với tỷ lệ 0% lúc đầu; nhóm đạt kết quả này thường trẻ tuổi hơn (trung bình 40,0 tuổi so với 48,4 tuổi) và giảm cân nhiều hơn (-23,0% so với -6,9% trọng lượng) [6].
Về mặt giải phẫu xương, một nghiên cứu năm 2015 đã phân tích phim chụp X-quang sọ nghiêng của 57 bệnh nhân trong thử nghiệm giảm cân kéo dài 2 năm (giảm trung bình 13% trọng lượng, từ 131 kg xuống 114 kg, giúp AHI giảm từ 61 xuống 41 lần/giờ) [7]. Dữ liệu trên 54 bệnh nhân hoàn tất theo dõi chỉ ra rằng tỷ lệ phần trăm giảm AHI có mối tương quan với chiều dài thân xương hàm dưới ngắn (khoảng cách từ điểm cằm đến góc hàm) [7]. Khi kết hợp cả hai yếu tố là mức giảm cân và chiều dài thân xương hàm dưới ngắn, khả năng dự báo mức giảm phần trăm AHI đạt tới 31% (R2 = 0,31) [7].
Những hiểu lầm thường gặp về giảm cân và thông mũi
Hiểu lầm phổ biến nhất của người bệnh là tin rằng chỉ cần giảm cân nhiều thì chứng ngưng thở khi ngủ sẽ tự khỏi hẳn và có thể bỏ máy trợ thở. Thực tế, ngay cả khi phẫu thuật giúp giảm cân rất lớn, phần lớn người bệnh (71%) vẫn còn ngưng thở khi ngủ ở mức trung bình đến nặng sau 1 năm [4]. Đáng lo ngại là trong nghiên cứu năm 2008, chỉ có 6/24 bệnh nhân duy trì tuân thủ sử dụng máy thở CPAP ở lần tái khám sau phẫu thuật, dù họ vẫn thuộc nhóm bắt buộc phải dùng máy để triệt tiêu các cơn ngưng thở [4]. Các tài liệu khoa học đều khẳng định giảm cân qua lối sống cải thiện thông số bệnh nhưng thường không đủ để đưa chúng về mức bình thường hoàn toàn [1].
Một hiểu lầm khác là giảm cân sẽ giúp mũi thông thoáng hơn và hết nghẹt mũi khi ngủ. Để kiểm tra điều này, một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên năm 2008 đã theo dõi 52 người thừa cân (BMI 28-40 kg/m2) mắc ngưng thở khi ngủ mức độ nhẹ (AHI 5-15 lần/giờ) trong 3 tháng [8]. Nhóm can thiệp (26 người) áp dụng chế độ ăn rất ít năng lượng có giám sát đã giảm BMI mạnh hơn hẳn nhóm đối chứng (26 người) chỉ tư vấn thông thường (giảm 5,4 so với 0,5 kg/m2), đồng thời giảm AHI được 3,2 lần/giờ so với 1,3 lần/giờ ở nhóm chứng [8]. Tuy nhiên, các phép đo trở kháng mũi, thể tích hốc mũi và điểm chất lượng cuộc sống vùng mũi không hề thay đổi sau khi giảm cân [8].
Ai nên thận trọng khi áp dụng giảm cân điều trị bệnh?
Những người mắc chứng ngưng thở khi ngủ mức độ nặng hoặc có chỉ số AHI ban đầu rất cao cần đặc biệt thận trọng, vì bệnh thường vẫn tồn tại dai dẳng sau khi đã giảm cân thành công [4][5]. Người bệnh tuyệt đối không tự ý ngưng sử dụng máy thở CPAP hoặc tự điều chỉnh giảm áp lực máy khi thấy cân nặng giảm mà chưa thực hiện đo lại đa ký giấc ngủ theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa [4].
Bên cạnh đó, những người vừa bị ngưng thở khi ngủ vừa kèm theo tình trạng cản trở luồng khí qua mũi hoặc nghẹt mũi mạn tính cần lưu ý rằng việc ép cân sẽ không giải quyết được vấn đề tại mũi [8]. Nhóm bệnh nhân này cần được bác sĩ thăm khám để có phương pháp điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật mũi chuyên biệt nhằm khôi phục luồng thông khí [8]. Bệnh nhân có các bệnh nền mạn tính như đái tháo đường týp 2 hoặc béo phì nặng khi muốn áp dụng chế độ ăn rất ít năng lượng hay phẫu thuật giảm cân cũng phải có sự giám sát y tế chặt chẽ [6][5].
Gợi ý áp dụng thực tế để tối ưu hiệu quả đường thở
Để đạt được lợi ích rõ rệt trên đường thở, người bệnh thừa cân, béo phì nên đặt mục tiêu giảm cân bền vững thông qua chế độ ăn kiểm soát năng lượng kết hợp tăng cường vận động thể lực dưới sự hướng dẫn chuyên môn [1][5]. Ở người béo phì kèm đái tháo đường týp 2, việc phấn đấu giảm từ 10 kg trở lên trong vòng 1 năm qua chương trình thay đổi lối sống tích cực là cột mốc thực tế giúp tạo ra mức sụt giảm chỉ số AHI mạnh mẽ nhất [5]. Nhìn chung, giảm khoảng 20% chỉ số BMI là ngưỡng mang lại hiệu quả giảm hơn một nửa số cơn ngưng - giảm thở mỗi giờ [2].
Trong quá trình giảm cân, người bệnh nên tập thói quen chuyển sang ngủ nghiêng, tránh nằm ngửa [6]. Với hơn một phần năm số bệnh nhân giảm cân tốt, việc đơn giản là tránh tư thế nằm ngửa khi ngủ có thể giúp đưa chỉ số ngưng thở về mức bình thường [6]. Ngoài ra, vì giảm cân tập trung làm giảm mỡ lưỡi và thành họng chứ không thông mũi, người bệnh nên kết hợp vệ sinh mũi và điều trị dứt điểm các bệnh lý mũi xoang nếu có [3][8].
Giảm cân là biện pháp nền tảng giúp thu gọn lớp mỡ vùng lưỡi và hầu họng, từ đó hạ thấp mức độ nguy hiểm của chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn [2][3]. Tuy nhiên, đây không phải là phép màu xóa bỏ hoàn toàn bệnh lý ở tất cả mọi người [1][4]. Người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, kết hợp tư thế ngủ hợp lý và tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị cũng như hướng dẫn sử dụng máy trợ thở từ bác sĩ chuyên khoa [6][4].




