Nhiều người Việt có thói quen bồi bổ cơ thể bằng nhân sâm hoặc các chế phẩm từ sâm khi chuẩn bị bước vào các đợt điều trị y tế lớn. Không ít người tin rằng uống sâm sẽ giúp tăng cường sinh lực, nâng cao thể trạng để nhanh chóng hồi phục vết thương sau mổ. Tuy nhiên, việc tùy tiện sử dụng các loại dược liệu tự nhiên ngay trước thềm phẫu thuật lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ y khoa đáng lo ngại, đặc biệt là nguy cơ xuất huyết khó cầm trong và sau ca mổ.

Để đảm bảo an toàn ngoại khoa tối đa, các khuyến cáo y khoa thường yêu cầu người bệnh ngừng uống nhân sâm ít nhất từ 1 đến 2 tuần trước ngày can thiệp phẫu thuật. Khoảng thời gian này giúp cơ thể đào thải hoàn toàn các hoạt chất sinh học của sâm, tái lập trạng thái đông máu tự nhiên và phòng ngừa nguy cơ tương tác nguy hiểm với các loại thuốc gây mê, thuốc chống đông máu hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu.

Nỗi lo xuất huyết chu phẫu từ thói quen dùng thảo dược bồi bổ

Nhân sâm châu Á (Panax ginseng) là một loại thảo dược lâu năm chứa hoạt chất chính là các saponin triterpenoid bốn vòng, thường được gọi là các ginsenoside [1]. Từ lâu, dược liệu này được biết đến với công dụng bồi bổ, tăng cường sức chịu đựng của cơ thể, hỗ trợ điều hòa đường huyết, lipid máu và chống viêm [1], [2]. Nhờ những tác dụng này, nhiều người bệnh chuẩn bị phẫu thuật đã tìm đến sâm như một giải pháp tăng cường đề kháng trước khi bước lên bàn mổ.

Dù vậy, trong ngoại khoa, chảy máu luôn là một trong những biến chứng nguy hiểm hàng đầu có thể đe dọa tính mạng hoặc làm hỏng kết quả phẫu thuật. Theo y học cổ truyền, nhân sâm cùng một số thảo dược có tính chất "hoạt huyết", từ đó làm dấy lên những nghi ngại rằng chúng có thể gây ức chế ngưng tập tiểu cầu hoặc kéo dài thời gian đông máu [3]. Một nghiên cứu quan sát đối chứng theo phương pháp ca - đan chéo (case-crossover) công bố năm 2017 tại Đài Loan đã xếp nhân sâm châu Á (Panax ginseng) cùng với nhân sâm Mỹ (Panax quinquefolius) vào danh sách các vị thuốc cổ truyền cần theo dõi chặt chẽ vì có dữ liệu ghi nhận về nguy cơ chảy máu khi dùng phối hợp [4].

Mối lo ngại về biến chứng chảy máu trở nên nghiêm trọng hơn ở những bệnh nhân đang có bệnh lý tim mạch, mạch máu não hoặc rối loạn chuyển hóa chuẩn bị mổ [5], [6]. Việc bổ sung dược liệu không qua kiểm soát có thể khiến phẫu thuật viên và bác sĩ gây mê hồi sức gặp khó khăn trong việc kiểm soát lượng máu mất trong quá trình can thiệp ngoại khoa.

Cơ chế tác động của nhân sâm lên hệ đông máu và thành mạch

Để hiểu vì sao nhân sâm lại bị đưa vào diện giám sát trước phẫu thuật, các nhà khoa học đã tập trung phân tích cơ chế sinh học của các ginsenoside. Về mặt sinh lý, sự đông máu dựa vào hai trụ cột chính: sự ngưng tập của các tế bào tiểu cầu để tạo nút chặn ban đầu và hoạt hóa chuỗi thác đông máu huyết tương để tạo lưới fibrin củng cố cục máu đông. Khi các hoạt chất trong dược liệu can thiệp vào một trong hai quá trình này, thời gian chảy máu sẽ kéo dài ra.

Ở cấp độ tế bào và mạch máu, các nghiên cứu cho thấy các loài nhân sâm khác nhau có mức độ ảnh hưởng không đồng nhất lên quá trình đông máu [7]. Một nghiên cứu thực nghiệm công bố năm 2009 so sánh tác động của tam thất (Panax notoginseng), nhân sâm châu Á (Panax ginseng) và sâm Mỹ (Panax quinquefolium) đã chỉ ra rằng các loài này ức chế sự ngưng tập tiểu cầu do collagen kích hoạt ở các mức độ khác nhau [7]. Trong số đó, tam thất thể hiện tác dụng kháng tiểu cầu mạnh hơn hẳn so với nhân sâm châu Á và sâm Mỹ [7]. Tác dụng ức chế này trên mô hình in vitro đã dẫn đến việc kéo dài thời gian chảy máu in vivo trên chuột thí nghiệm [7].

Ngoài ra, nhân sâm còn can thiệp vào tính thấm của màng tế bào ruột. Một tổng quan y khoa năm 2025 ghi nhận rằng ginsenoside có thể làm thay đổi tính linh động của màng tế bào và cấu trúc liên kết vòng bịt (tight junction), từ đó làm tăng tính thẩm thấu của ruột đối với một số hoạt chất và thuốc dùng kèm [5]. Khi tính thấm thành mạch và màng tế bào biến đổi, dược động học của các chất chống đông đi kèm cũng có thể bị xáo trộn, gián tiếp gia tăng rủi ro xuất huyết ngoại khoa [5].

Bằng chứng lâm sàng: Nhân sâm tác động đến người thực tế ra sao?

Mặc dù các thí nghiệm trong ống nghiệm và trên động vật cho thấy nhân sâm có đặc tính kháng đông, các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên người lại đưa ra những góc nhìn đa chiều và thận trọng hơn [5], [3].

Một thử nghiệm lâm sàng mù đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược năm 2017 đã theo dõi tác động kháng đông máu của nghệ (Curcuma longa), đương quy (Angelica sinensis) và nhân sâm châu Á (Panax ginseng) trên 25 người tình nguyện khỏe mạnh cho mỗi nhóm dược liệu [3]. Thử nghiệm được thiết kế làm 3 giai đoạn: chỉ dùng dược liệu đơn độc, chỉ dùng aspirin đơn độc, và dùng kết hợp cả aspirin lẫn dược liệu [3]. Mỗi giai đoạn dùng liên tục trong 3 tuần, xen kẽ là 2 tuần đào thải (washout) giữa các giai đoạn [3]. Các chỉ số đông máu huyết tương như PT (thời gian prothrombin), APTT (thời gian thromboplastin một phần hoạt hóa), độ ngưng tập tiểu cầu đo bằng phương pháp truyền sáng và xét nghiệm tạo thrombin tự động đã được kiểm tra trước và sau mỗi giai đoạn [3].

Kết quả thử nghiệm cho thấy: nhìn chung không có tác động đáng kể nào về mặt lâm sàng lên chức năng tiểu cầu và quá trình đông máu ở nhóm dùng nhân sâm [3]. Cụ thể, ngoại trừ 1 trên tổng số 23 đối tượng trong nhóm dùng Panax ginseng xuất hiện hiện tượng ức chế ngưng tập tiểu cầu cảm ứng bởi axit arachidonic, nhân sâm không hề gây ức chế ngưng tập tiểu cầu khi kích hoạt bằng các chất chủ vận khác [3]. Việc kết hợp nhân sâm với aspirin cũng không làm trầm trọng thêm mức độ ức chế tiểu cầu do aspirin gây ra [3]. Đồng thời, nhân sâm không làm suy giảm các chỉ số PT, APTT, không ảnh hưởng đến lượng thrombin sinh ra và không ghi nhận hiện tượng chảy máu đáng kể nào trên lâm sàng [3].

Ở khía cạnh tương tác với thuốc chống đông đường uống mạnh như warfarin, các dữ liệu cũng cho thấy nhiều điểm chưa thống nhất [5]. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng năm 2008 kéo dài 2 tuần trên 25 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ đang dùng warfarin (chia nhóm có hoặc không dùng bổ sung Panax ginseng) cho thấy: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số INR, thời gian prothrombin đỉnh (peak PT) hay diện tích dưới đường cong (AUC) giữa hai nhóm [5]. Một đánh giá năm 2019 tổng hợp 4 nghiên cứu liên quan đến sâm cũng nhấn mạnh rằng trong khi sâm Mỹ có biểu hiện đối kháng warfarin trong một nghiên cứu năm 2004, các thử nghiệm liên quan đến Panax ginseng hoặc Panax notoginseng lại cho thấy rất ít hoặc không có ảnh hưởng đến hiệu lực chống đông của warfarin [5].

Nguy cơ tương tác thuốc phức tạp khi dùng đồng thời

Dù bản thân nhân sâm đơn độc ở người khỏe mạnh ít khi gây rối loạn đông máu nặng, rủi ro lại tăng vọt khi người bệnh dùng sâm chung với các thuốc tác động lên tim mạch và huyết khối [4], [5]. Người chuẩn bị phẫu thuật thường là những người có bệnh lý nền, phải dùng các thuốc như aspirin hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu khác [4], [6].

Một tổng quan năm 2025 đã trích dẫn hai nghiên cứu dược động học tiền lâm sàng trên chuột về sự tương tác giữa sâm và aspirin [5]. Nghiên cứu thứ nhất phát hiện việc dùng chung sâm với aspirin làm nồng độ salicylate trong huyết tương tăng vọt, cao gấp khoảng 2 lần so với khi chỉ uống một mình aspirin [5]. Nghiên cứu thứ hai giải thích điều này là do sâm làm tăng tính thấm ở ruột đối với cả aspirin và salicylate thông qua sự biến đổi màng tế bào của ginsenoside [5]. Ở chiều ngược lại, chính aspirin cũng làm tăng hấp thu các ginsenoside vào cơ thể [5]. Sự gia tăng đột ngột nồng độ thuốc chống kết tập tiểu cầu trong máu do nhân sâm thúc đẩy có thể dẫn đến nguy cơ ức chế tiểu cầu quá mức trong phòng mổ.

Trong nghiên cứu năm 2017 theo dõi các trường hợp xuất huyết nặng phải nhập viện, các nhà khoa học ghi nhận phần lớn các biến cố chảy máu ở bệnh nhân dùng liệu pháp kháng tiểu cầu kép thường xảy ra trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 tuần đầu sau khi bắt đầu phối hợp thuốc [4]. Do đó, thời kỳ nguy cơ cao được xác định là từ 1 đến 4 tuần trước thời điểm xảy ra biến cố xuất huyết nặng [4]. Điều này cho thấy sự tích lũy hoạt chất hoặc tương tác giữa thuốc tây y và dược liệu như sâm có thể cần một khoảng thời gian vài tuần để biểu hiện thành tai biến chảy máu trên lâm sàng [4].

Vì sao khoảng thời gian 1 đến 2 tuần trước mổ là mốc quan trọng?

Căn cứ vào dữ liệu dược lý và các hướng dẫn quản lý thuốc chu phẫu, việc ngưng sâm trước phẫu thuật từ 7 đến 14 ngày (1-2 tuần) là lựa chọn hợp lý nhất để bảo vệ người bệnh [4], [8].

Trong thực hành phẫu thuật và thủ thuật can thiệp, thời gian tạm ngưng các thuốc tác động lên đông máu luôn được tính toán chi tiết dựa trên thời gian bán thải và đời sống tiểu cầu [8]. Chẳng hạn, theo hướng dẫn của Hiệp hội Nội soi Tiêu hóa Hoa Kỳ (ASGE) đối với thủ thuật mở dạ dày qua da (một thủ thuật có tỷ lệ chảy máu sau mổ khoảng 2-2,5%), thuốc chống đông warfarin cần được ngừng từ 4 đến 7 ngày trước thủ thuật [8]. Đối với các thuốc nhóm thienopyridine như clopidogrel ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ thuyên tắc mạch thấp, thời gian cần tạm ngừng là 7 đến 10 ngày trước khi tiến hành can thiệp [8].

Mặc dù việc ngưng thuốc quá lâu (trên 7 ngày) đối với các thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin ở bệnh nhân phẫu thuật thần kinh có thể làm tăng nguy cơ tổn thương cơ tim sau phẫu thuật ngoài tim (MINS) [6], nhưng với các thực phẩm chức năng và thảo dược bổ trợ như nhân sâm, việc ngừng sử dụng hoàn toàn không gây ra hội chứng cai hay nguy cơ huyết khối do thiếu hụt dược chất. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các giai đoạn đào thải thuốc (washout period) của sâm và thảo dược thường kéo dài khoảng 2 tuần để đưa các chỉ số sinh hóa trở về mức ban đầu [3]. Vì vậy, việc ngừng sâm tối thiểu 7 ngày và lý tưởng nhất là 14 ngày trước mổ sẽ giúp cơ thể loại bỏ các tương tác làm tăng hấp thu salicylate hay biến đổi màng ruột [5], đưa chức năng ngưng tập tiểu cầu về trạng thái tự nhiên [3], [7].

Những tác dụng phụ khác và đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Ngoài vấn đề đông máu, nhân sâm còn có những tác dụng dược lý khác có thể gây bất lợi cho quá trình gây mê và phẫu thuật. Khi sử dụng đúng cách, nhân sâm tương đối an toàn, tuy nhiên y văn đã ghi nhận các tác dụng phụ bao gồm tăng huyết áp, tiêu chảy, bồn chồn mất ngủ, đau tức vú và thậm chí là chảy máu âm đạo [1]. Việc huyết áp tăng cao hoặc tâm lý bồn chồn trước mổ do tác động của sâm lên trục hạ đồi - tuyến yên - thượng thận làm tăng nồng độ corticotropin và corticosteroid huyết tương có thể gây khó khăn cho việc kiểm soát huyết động trong phòng mổ [1].

Những nhóm đối tượng sau đây cần tuyệt đối cẩn trọng và phải báo cáo ngay với bác sĩ nếu đang sử dụng nhân sâm:

  • Người chuẩn bị trải qua các đại phẫu lớn, phẫu thuật thần kinh, sọ não hoặc can thiệp nội soi có can thiệp mô [6], [8].
  • Người đang đồng thời sử dụng các thuốc chống đông máu như warfarin, thuốc kháng kết tập tiểu cầu như aspirin, clopidogrel [5], [8].
  • Người có tiền sử tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim hoặc mất ngủ kéo dài [1].
  • Bệnh nhân mắc các bệnh lý chuyển hóa phức tạp, bệnh thận đái tháo đường đang dùng nhiều loại thuốc điều trị phối hợp [2].

Hướng dẫn chuẩn bị an toàn trước khi bước vào phòng phẫu thuật

Để đảm bảo cuộc phẫu thuật diễn ra thuận lợi và không gặp phải các sự cố xuất huyết ngoài ý muốn, người bệnh và thân nhân cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Trước hết, hãy tạo thói quen kiểm kê toàn bộ những gì mình đang nạp vào cơ thể. Ngay từ buổi khám tiền phẫu, hãy mang theo hoặc chụp ảnh lại toàn bộ các sản phẩm bổ sung đang dùng, bao gồm nhân sâm củ, hồng sâm, trà sâm, nước sâm tăng lực, viên nang chiết xuất hay các bài thuốc y học cổ truyền phối hợp nhiều vị thảo dược [4], [1]. Bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê cần biết chính xác loại sâm, liều lượng và thời gian bạn đã sử dụng.

Thứ hai, chủ động dừng uống nhân sâm và các sản phẩm chứa sâm trước ngày mổ ít nhất 7 đến 14 ngày, trừ khi có chỉ định đặc biệt khác từ bác sĩ chủ trì điều trị [3], [8]. Trong thời gian này, không tự ý thay thế sâm bằng các loại thảo dược "bổ máu", "hoạt huyết" khác như đương quy, tam thất hay nghệ tươi liều cao, bởi những vị thuốc này cũng có các hoạt tính tác động nhất định lên quá trình đông máu và tiểu cầu [4], [3], [7].

Cuối cùng, sau khi ca mổ thành công, không nên vội vã uống sâm lại ngay trong những ngày đầu hậu phẫu khi vết thương chưa liền miệng hoặc khi ống dẫn lưu còn hoạt động. Hãy đợi đến khi vết mổ hồi phục hoàn toàn, các chỉ số huyết học ổn định và tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi sử dụng lại nhân sâm để bồi bổ sức khỏe.

Tóm lại, nhân sâm là một vị thuốc quý với nhiều tiềm năng sinh học tốt cho sức khỏe [1], [2]. Tuy nhiên, trước bàn mổ ngoại khoa, an toàn cầm máu phải luôn được đặt lên hàng đầu. Việc chủ động ngưng dùng nhân sâm trước phẫu thuật từ 1 đến 2 tuần là biện pháp can thiệp dự phòng đơn giản nhưng mang tính quyết định giúp giảm thiểu nguy cơ tai biến và bảo vệ tính mạng người bệnh.