Thắc mắc của mẹ bầu về giấc ngủ trưa và tiền sản giật

Nhiều phụ nữ mang thai thường cảm thấy mệt mỏi vào ban ngày và có thói quen chợp mắt buổi trưa để lấy lại sức. Không ít người truyền tai nhau rằng ngủ trưa đúng số phút nhất định sẽ giúp tăng lưu lượng máu tử cung và ngăn ngừa biến chứng tiền sản giật. Tỷ lệ gặp các vấn đề về giấc ngủ ở phụ nữ mang thai vượt mức 50%, trong đó buồn ngủ ban ngày là một trong những biểu hiện phổ biến nhất [1].

Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu hiện tại không đưa ra con số cụ thể về thời lượng ngủ trưa tối ưu giúp giảm nguy cơ tiền sản giật hay cải thiện lưu lượng máu tử cung. Thay vào đó, dữ liệu khoa học chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa tiền sản giật với tổng chất lượng giấc ngủ ban đêm, nhịp sinh học thức khuya, làm việc theo ca, tình trạng buồn ngủ mức độ nặng và chứng rối loạn nhịp thở khi ngủ [2][3][4][5].

Cơ chế nhịp sinh học và giấc ngủ tác động đến huyết áp thai kỳ

Nhịp sinh học của các chức năng cơ thể được điều khiển bởi đồng hồ trung tâm nằm ở nhân trên giao thoa thị giác thuộc vùng dưới đồi, kết hợp cùng các đồng hồ ngoại vi nằm rải rác khắp các mô cơ thể [2]. Tín hiệu từ ánh sáng và thức ăn giúp đồng bộ hóa hệ thống đồng hồ này theo thời gian trong ngày [2]. Sự đồng bộ đó trực tiếp điều hòa nhiều quá trình sinh lý quan trọng của thai phụ như thân nhiệt, chu kỳ ngủ - thức, mức đường huyết và đặc biệt là huyết áp [2].

Khi giấc ngủ bị xáo trộn hoặc lệch nhịp sinh học, cơ chế điều hòa huyết áp và chuyển hóa bị ảnh hưởng rõ rệt [2][5]. Tiền sản giật là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho cả mẹ lẫn thai nhi, hiện chưa có phương pháp điều trị dứt điểm ngoài việc chấm dứt thai kỳ [3]. Theo hướng dẫn của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, tiền sản giật được xác định khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên trong hai lần đo cách nhau 4 giờ sau tuần thai thứ 20 ở phụ nữ trước đó có huyết áp bình thường [6]. Tình trạng này đi kèm protein niệu từ 300 mg/24 giờ trở lên, tỷ lệ protein/creatinine từ 0,3 trở lên, hoặc que thử nước tiểu dương tính từ 1+ trở lên [6].

Ngay cả khi không có protein niệu, tiền sản giật vẫn được chẩn đoán nếu tăng huyết áp mới khởi phát đi kèm một trong các dấu hiệu tổn thương cơ quan [6]. Các dấu hiệu này gồm giảm tiểu cầu dưới 100.000/microL, nồng độ creatinine huyết thanh từ 1,1 mg/ngày trở lên hoặc tăng gấp đôi mức nền khi không có bệnh thận khác [6]. Ngoài ra còn có tình trạng men gan tăng gấp đôi mức bình thường, phù phổi, hoặc xuất hiện triệu chứng thần kinh trung ương và thị giác [6].

Bằng chứng khoa học về giấc ngủ trưa, cơn buồn ngủ ngày và biến chứng sản khoa

Nhiều thai phụ kỳ vọng ngủ trưa nhiều sẽ tốt cho thai kỳ, nhưng nghiên cứu thực tế lại cho kết quả cần lưu ý về việc ngủ ngày và cơn buồn ngủ quá mức. Một nghiên cứu công bố năm 2022 trên nhóm thai phụ chủ yếu là người gốc Mỹ Latinh có tỷ lệ béo phì cao đã phân tích mối liên hệ giữa làm việc theo ca, thời lượng ngủ và thói quen ngủ trưa [5]. Kết quả sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu cho thấy việc ngủ trưa có liên quan có ý nghĩa thống kê với sinh non (p = 0,027) [5]. Đáng chú ý, ngủ trưa từ 3 lần trở lên mỗi tuần có liên quan với tình trạng thai to so với tuổi thai (p = 0,016) [5].

Cũng trong nghiên cứu năm 2022 này, bản thân việc ngủ trưa không cho thấy tác dụng giảm tiền sản giật [5]. Ngược lại, biểu hiện buồn ngủ quá mức vào ban ngày đến mức ngủ gật khi đang lái xe lại liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp thai kỳ (p = 0,020), tiền sản giật có dấu hiệu nặng (p = 0,040), tiền sản giật không có dấu hiệu nặng (p = 0,012) và kết cục sản khoa bất lợi tổng hợp (p = 0,043) [5]. Bên cạnh đó, làm việc theo ca có liên quan rõ rệt với tiền sản giật (p < 0,001), tiền sản giật có dấu hiệu nặng (p = 0,036) và đái tháo đường thai kỳ nhóm A1 (p = 0,023) lẫn nhóm A2 (p = 0,009) [5]. Thời lượng ngủ ngắn liên quan với đái tháo đường thai kỳ nhóm A2 (p = 0,012) và trẻ phải nhập khoa hồi sức sơ sinh (p = 0,039), trong khi thời lượng ngủ kéo dài giúp giảm nguy cơ kết cục sản khoa bất lợi tổng hợp (p = 0,013) [5].

Tình trạng buồn ngủ ban ngày của mẹ còn liên quan đến sự phát triển lâu dài của trẻ. Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu năm 2019 theo dõi 111 cặp mẹ - con đã đánh giá mức độ buồn ngủ ban ngày ở tuần thai 17 và 28 bằng thang đo Epworth, sau đó kiểm tra sự phát triển của trẻ ở độ tuổi từ 2,6 đến 5,7 tuổi (trung bình 4,3 tuổi) [1]. Kết quả cho thấy buồn ngủ ban ngày ở mẹ làm tăng tổng các vấn đề tâm thần ở trẻ (hệ số hồi quy B = 0,25 độ lệch chuẩn; khoảng tin cậy 95% từ 0,01 đến 0,48), các vấn đề hướng nội (B = 0,25 độ lệch chuẩn) và triệu chứng tăng động giảm chú ý (B = 0,27 độ lệch chuẩn; khoảng tin cậy 95% từ 0,04 đến 0,50) [1]. Trẻ cũng có chức năng điều hành kém hơn ở khả năng chú ý, trí nhớ làm việc và kiểm soát ức chế (B = -0,39 độ lệch chuẩn; khoảng tin cậy 95% từ -0,69 đến -0,10) [1].

Ở góc độ di truyền dịch tễ, một nghiên cứu ngẫu nhiên hóa Mendel hai chiều công bố năm 2025 đã khảo sát 7 đặc điểm giấc ngủ (mất ngủ, thời lượng ngủ, việc thức dậy buổi sáng, ngủ trưa ban ngày, kiểu người sáng/tối, chứng ngủ rũ, ngáy) và 12 biến chứng chu sinh [7]. Phân tích cho thấy chứng ngủ rũ (narcolepsy) có mối liên hệ nhân quả với tăng huyết áp thai kỳ và sản giật [7]. Trong khi đó, tình trạng mất ngủ liên quan nhân quả với sinh non, còn thời lượng ngủ liên quan với đái tháo đường thai kỳ [7].

Tác động của thói quen thức khuya và rối loạn hô hấp khi ngủ

Thay vì chỉ chú ý đến giấc ngủ trưa, nhịp sinh học thức - ngủ buổi tối mới là yếu tố thể hiện rõ mối liên hệ với tiền sản giật. Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố năm 2023 tại Fortaleza, Brazil (giai đoạn 2018-2020) đã theo dõi 305 thai phụ mắc đái tháo đường thai kỳ ở tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba [2]. Các nhà nghiên cứu dùng bảng câu hỏi MEQ (điểm từ 41 trở xuống được xếp vào nhóm ưa hoạt động buổi tối/thức khuya) kết hợp thiết bị đo vận động trong 7 ngày [2].

Trong số 305 bệnh nhân, có 21 người (chiếm 6,9%) thuộc nhóm có xu hướng thức khuya [2]. Nhóm này có chất lượng giấc ngủ kém hơn (p < 0,01), mức độ mất ngủ nặng hơn (p < 0,005), mệt mỏi nhiều hơn (p < 0,005) và nhiều triệu chứng trầm cảm hơn (p < 0,009) [2]. Đặc biệt, kiểu nhịp sinh học buổi tối có liên quan trực tiếp với tiền sản giật (p = 0,01; OR = 0,27; khoảng tin cậy 0,09-0,79) và làm tăng nhu cầu trẻ phải nhập khoa hồi sức sơ sinh (p = 0,02; OR = 0,23; khoảng tin cậy 0,06-0,80) [2]. Điểm MEQ thấp khẳng định mối liên hệ độc lập với tiền sản giật ngay cả sau khi đã kiểm soát các yếu tố tuổi, tăng huyết áp động mạch, chất lượng giấc ngủ, sự mệt mỏi và triệu chứng trầm cảm (p < 0,005; OR = 0,91; khoảng tin cậy 0,87-0,95) [2].

Bên cạnh nhịp sinh học, các rối loạn giấc ngủ bệnh lý cũng đóng vai trò quan trọng. Một tổng quan hệ thống năm 2013 đánh giá các nghiên cứu suốt hai thập kỷ (từ năm 1991 đến 2010) cùng một bài tổng quan khác cùng năm đã chỉ ra 3 nhóm rối loạn giấc ngủ chính ở thai phụ: rối loạn nhịp thở khi ngủ (ngáy thường xuyên, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn), hội chứng chân không yên và mất ngủ [4][8]. Dù thường bị nhân viên y tế bỏ qua, các rối loạn này làm tăng nguy cơ tiền sản giật, tăng đường huyết, trầm cảm, chuyển dạ kéo dài, sinh mổ và sinh non [4][8].

Mối liên hệ giữa rối loạn nhịp thở khi ngủ và tiền sản giật được minh họa rõ qua báo cáo ca bệnh năm 2015 về một phụ nữ 35 tuổi mang thai lần đầu, được chẩn đoán tiền sản giật khởi phát sớm ở tuần thai thứ 30 [3]. Kết quả đo đa ký giấc ngủ xác nhận thai phụ bị rối loạn nhịp thở khi ngủ mức độ nặng [3]. Sau khi được điều trị bằng máy thở áp lực dương liên tục (CPAP), cả các dấu hiệu lâm sàng, chỉ số sinh hóa và các chất chỉ điểm tạo mạch trong máu của bệnh tiền sản giật đều cải thiện [3]. Nhờ đó, thai kỳ được duy trì an toàn thêm 30 ngày để thai nhi tiếp tục phát triển [3].

Hiểu lầm thường gặp về giấc ngủ trong thai kỳ

Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng có thể bù đắp hoàn toàn việc thiếu ngủ ban đêm hoặc thói quen thức khuya bằng cách ngủ trưa thật dài. Dữ liệu từ nghiên cứu năm 2023 cho thấy bản thân việc lệch nhịp sinh học về đêm đã có mối liên hệ độc lập với tiền sản giật bất kể chất lượng giấc ngủ chủ quan [2]. Hơn nữa, ngủ trưa từ 3 lần trở lên mỗi tuần còn ghi nhận mối liên hệ với tình trạng thai to hơn tuổi thai và sinh non [5].

Hiểu lầm thứ hai là xem việc ngáy to hoặc buồn ngủ rũ rượi vào ban ngày là biểu hiện sinh lý bình thường của bà bầu. Thực tế, buồn ngủ đến mức ngủ gật khi lái xe hoặc mắc chứng ngủ rũ là những yếu tố cảnh báo nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm thần kinh của trẻ sau này [1][5][7]. Ngáy thường xuyên và ngưng thở khi ngủ cũng là bệnh lý cần được can thiệp y khoa thay vì chỉ nghỉ ngơi đơn thuần [3][4].

Ai nên thận trọng với các bất thường giấc ngủ?

Nhóm đầu tiên cần đặc biệt thận trọng là phụ nữ mang thai làm việc theo ca kíp hoặc có thói quen sinh hoạt về đêm. Các nghiên cứu chỉ ra nhóm này đối mặt với nguy cơ cao bị tiền sản giật, tiền sản giật có dấu hiệu nặng, đái tháo đường thai kỳ và trẻ sơ sinh phải chăm sóc tích cực [2][5].

Nhóm thứ hai là thai phụ thừa cân, béo phì hoặc đã được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ có kèm rối loạn giấc ngủ [2][5]. Nhóm thứ ba là những thai phụ có biểu hiện ngáy to, ngưng thở khi ngủ, hội chứng chân không yên, hoặc thường xuyên ngủ gật vào ban ngày khi đang sinh hoạt, lái xe [3][4][5]. Khi xuất hiện các dấu hiệu này, thai phụ cần thông báo sớm cho bác sĩ sản khoa để được sàng lọc huyết áp và chức năng hô hấp khi ngủ [1][4].

Cách quản lý giấc ngủ thực tế và an toàn cho mẹ bầu

Để theo dõi và thiết lập giấc ngủ lành mạnh ngay từ tam cá nguyệt đầu tiên (từ tuần thai 14 trở xuống), thai phụ có thể dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giấc ngủ ban đêm trong nghiên cứu năm 2025 [6]. Cụ thể, thời lượng ngủ đêm ngắn được định nghĩa là dưới 6 giờ và ngủ dài là trên 9 giờ; do đó, duy trì giấc ngủ đêm trong khoảng 6 đến 9 giờ là mốc tham chiếu cân bằng [6].

Thai phụ cũng cần lưu ý đến hiệu suất giấc ngủ (tỷ lệ giữa tổng thời gian thực ngủ ban đêm trên tổng thời gian nằm trên giường) và thời gian tiềm tàng của giấc ngủ (thời gian từ lúc nằm xuống đến lúc ngủ được) [6]. Hiệu suất ngủ thấp được xác định khi đạt từ 85% trở xuống [6]. Tình trạng khó vào giấc kéo dài được tính khi mất hơn 30 phút mới ngủ được với tần suất 3 lần/tuần, hoặc mất hơn 60 phút nhiều hơn 1 lần/tuần [6]. Nếu gặp tình trạng này, mẹ bầu không nên nằm trằn trọc quá lâu trên giường và tuyệt đối không tự ý dùng thuốc ngủ thường xuyên mà cần hỏi ý kiến bác sĩ [6].

Đồng thời, thai phụ nên tận dụng ánh sáng tự nhiên ban ngày và ăn uống đúng giờ để đồng bộ hóa đồng hồ sinh học trung tâm và ngoại vi, tránh thức khuya hay làm việc ca đêm nếu có thể sắp xếp [2][5]. Nếu buồn ngủ vào buổi trưa, mẹ bầu chỉ nên nghỉ ngơi nhẹ nhàng, tránh lạm dụng ngủ trưa nhiều lần kéo dài trong tuần và cần đi khám ngay nếu cơn buồn ngủ ban ngày đi kèm ngáy to hoặc tăng huyết áp [3][4][5].

Khám thai định kỳ và trao đổi thẳng thắn với bác sĩ về các triệu chứng mất ngủ, buồn ngủ ban ngày hay ngáy khi ngủ là bước quan trọng để bảo vệ sức khỏe mẹ và bé [1][4]. Mọi quyết định thay đổi lối sống hay can thiệp điều trị ở thai phụ có bệnh nền đều cần có sự tư vấn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa.