Khi bị tiêu chảy, nhiều gia đình có thói quen mua nước trái cây đóng hộp hoặc nước ngọt có gas cho người bệnh uống để bù nước và lấy lại sức. Tuy nhiên, không ít người nhận thấy bụng càng thêm sôi sùng sục, đầy hơi và số lần đi ngoài tăng vọt sau khi uống các loại đồ uống này.

Thực tế, uống nước trái cây đóng hộp hay nước ngọt lúc đang rối loạn tiêu hóa sẽ làm tiêu chảy nặng hơn. Nguyên nhân chính nằm ở hàm lượng đường fructose cao trong các thức uống này vượt quá khả năng hấp thu của ruột, gây ra hiện tượng tiêu chảy thẩm thấu (osmotic diarrhea) và sinh hơi trong đại tràng [1].

Thủ phạm mang tên đường fructose dư thừa

Fructose là một loại đường đơn (monosaccharide) có mặt tự nhiên với lượng nhỏ trong trái cây và một số loại rau củ [1]. Tuy nhiên, loại đường này lại xuất hiện với hàm lượng lớn hơn rất nhiều trong các chất tạo ngọt sản xuất công nghiệp và đường bổ sung như sucrose hay siro ngô giàu fructose (HFCS), vốn thường có trong nước ép đóng hộp và nước ngọt [2], [1].

Ở điều kiện bình thường, ruột non có giới hạn nhất định trong việc vận chuyển đường fructose vào máu. Tình trạng kém hấp thu fructose xảy ra khi ruột không thể hấp thu hiệu quả loại đường này, đặc biệt là khi lượng fructose nạp vào vượt quá nồng độ đường glucose trong cùng một thực phẩm hoặc đồ uống [3], [2], [4].

Trong y văn nhi khoa, hiện tượng này từng được biết đến rộng rãi dưới tên gọi "tiêu chảy do nước táo" (apple juice diarrhea), xuất phát từ việc tiêu thụ quá mức fructose dẫn đến đau bụng và tiêu chảy [3], [5]. Ở các mô hình động vật, chất vận chuyển fructose tại ruột là GLUT5 được điều hòa theo sự phát triển của cơ thể, điều này lý giải vì sao trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ mới biết đi, nhạy cảm hơn với tình trạng kém hấp thu đường fructose [5].

Cơ chế kéo nước vào lòng ruột và lên men sinh hơi

Khi đường fructose từ nước ngọt hoặc nước trái cây đóng hộp không được hấp thu hết ở ruột non, chúng sẽ di chuyển thẳng xuống đại tràng [4], [6]. Bản thân lượng đường nằm lại trong lòng ruột làm tăng áp lực thẩm thấu, kéo nước từ cơ thể vào ruột và trực tiếp gây ra tiêu chảy thẩm thấu [1]. Các nghiên cứu lâm sàng cũng ghi nhận các dung dịch có áp lực thẩm thấu cao đóng vai trò tiêu cực trong quá trình bù dịch khi tiêu chảy [7].

Không dừng lại ở đó, khi fructose tới đại tràng, hệ vi khuẩn tại đây sẽ phân hủy và lên men số đường này thành các axit béo chuỗi ngắn, khí CO2 và khí hydro (H2) [1], [4], [6]. Quá trình lên men này làm người bệnh xuất hiện hàng loạt triệu chứng khó chịu như đầy hơi, chướng bụng, ợ hơi, co thắt bụng và tiêu chảy [1], [4], [6]. Các triệu chứng này xuất hiện ở khoảng 50% số người bị kém hấp thu fructose [4].

Ngoài đường fructose, một số loại nước trái cây còn chứa sorbitol hoặc các carbohydrate khác từ vỏ trái cây cũng góp phần gây kém hấp thu [3], [7]. Việc tiêu thụ lượng lớn nước trái cây, nhất là loại giàu fructose và sorbitol, có liên quan đến việc kéo dài thời gian tiêu chảy và gây đau bụng co thắt (colic) [7].

Nghiên cứu khoa học nói gì về nước trái cây, nước ngọt và tiêu chảy?

Nhiều công trình nghiên cứu đã đo lường trực tiếp phản ứng của đường ruột với đường fructose thông qua nghiệm pháp thở hydro (hydrogen breath test) — phương pháp không xâm lấn đo lượng khí H2 trong hơi thở sinh ra khi đường bị vi khuẩn lên men ở ruột [3], [8].

Một nghiên cứu công bố năm 1992 đã khảo sát 293 bệnh nhân bị đau bụng tái diễn, đầy hơi hoặc tiêu chảy có liên quan đến việc uống nước ngọt, nước táo hoặc ăn trái cây [8]. Các nhà khoa học thu thập khí thở trước và mỗi 30 phút sau khi nạp fructose, xác định kém hấp thu khi mức hydro tăng đỉnh trên 20 ppm [8]. Kết quả cho thấy 108 trên 293 bệnh nhân có mức tăng hydro bất thường (trung bình 71,8 ppm, độ lệch chuẩn 31,4), và 79 người trong số này xuất hiện triệu chứng lâm sàng [8]. Nghiệm pháp thở trong nghiên cứu này đạt độ nhạy 98% và độ đặc hiệu 86% [8]. Đáng chú ý, khi 19 bệnh nhân có triệu chứng được kiểm tra lại bằng dung dịch có nồng độ glucose và fructose tương đương nhau (equimolar), toàn bộ 19 người đều có kết quả thở bình thường và không ai bị khó chịu ở bụng [8].

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng công bố năm 2005 đã đánh giá tác động của việc uống nước trái cây ở trẻ nhũ nhi đang bị tiêu chảy cấp [7]. Nghiên cứu so sánh nhóm trẻ uống nước lọc với nhóm uống các loại nước trái cây có tỷ lệ fructose/glucose khác nhau, có hoặc không có sorbitol [7]. Kết quả ghi nhận nhóm trẻ uống nước trái cây bị mất phân nhiều hơn trong 24 giờ đầu tiên của đợt tiêu chảy so với nhóm chỉ uống nước lọc [7]. Dù vậy, trẻ uống nước trái cây nạp được nhiều năng lượng hơn (tăng 12 cal/kg/ngày với nước táo và 18 cal/kg/ngày với nước nho trắng so với nước lọc) và tăng cân tốt hơn, đặc biệt là ở nhóm dùng loại nước ép có nồng độ fructose và glucose ngang bằng nhau và không chứa sorbitol [7]. Tất cả bệnh nhân sau đó đều hồi phục [7].

Ở nhóm trẻ có rối loạn tiêu hóa chức năng, một nghiên cứu năm 2013 đã theo dõi 43 bệnh nhân từ 3 tháng đến 16 tuổi (gồm 24 bé trai) trong thời gian từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2012 [2]. Trẻ được uống dung dịch fructose 10% với liều 1 g/kg cân nặng, đo khí thở lúc đói và mỗi 15 phút trong suốt 2 giờ [2]. Kết quả phát hiện 13 bệnh nhân (30,2%) bị kém hấp thu fructose (tăng trên 20 ppm hydro) và 1 bệnh nhân (2,3%) biểu hiện không dung nạp [2]. Tình trạng kém hấp thu fructose tập trung chủ yếu ở trẻ mắc hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy (7 trẻ, chiếm 16,3%) và đau bụng chức năng (4 trẻ, chiếm 9,3%) [2].

Tuy nhiên, fructose không phải là thủ phạm duy nhất trong nước ép. Một nghiên cứu năm 1995 trên 15 trẻ khỏe mạnh từ 2,2 đến 6,4 tuổi cho trẻ uống 15 ml/kg (tối đa 375 ml) nước táo, nước nho và nước việt quất đen (bilberry) [3]. Kết quả đo khí thở cho thấy sự hấp thu không hoàn toàn xảy ra ở cả 5/5 trẻ uống nước táo, 10/10 trẻ uống nước nho và 8/10 trẻ uống nước việt quất đen, mặc dù hai loại nước sau có nồng độ fructose và glucose tương đương nhau [3]. Ngay cả khi xử lý nước ép bằng nấm men để làm giảm phần lớn fructose và glucose, tình trạng kém hấp thu trên máy đo vẫn tồn tại, dù không trẻ nào có triệu chứng lâm sàng [3]. Giới hạn này gợi ý rằng các carbohydrate khác (có thể từ vỏ quả) cũng đóng vai trò đáng kể gây bài tiết khí hydro [3].

Ngoài ra, các nghiên cứu năm 1998 (trên 55 người lớn dùng liều 50 g fructose) và năm 2001 (hồi cứu trên 159 người lớn từ 14 đến 84 tuổi dùng liều 25 g fructose) cũng ghi nhận tỷ lệ kém hấp thu fructose ở người trưởng thành có triệu chứng tiêu hóa lần lượt lên tới 65,5% (36/55 người) và 67,3% (107/159 người) [4], [6]. Nghiên cứu năm 2001 còn thấy nhóm kém hấp thu fructose có nồng độ enzyme amylase (73,1 U/l so với 59,6 U/l) và lipase huyết thanh (122,0 U/l so với 89,5 U/l) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với người hấp thu bình thường, đồng thời liên quan đến mức axit folic huyết tương, tryptophan và kẽm huyết thanh thấp [6].

Hiểu lầm thường gặp khi chọn đồ uống lúc đau bụng

Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng nước trái cây tự nhiên hay đóng hộp đều lành tính và giúp cầm tiêu chảy nhờ cung cấp vitamin. Thực chất, cả nước ép tự nhiên lẫn nhân tạo đều thường chứa đường đơn fructose [2]. Khi lượng đường này vượt quá lượng glucose, ruột sẽ không tải nổi và làm lượng phân thải ra nhiều hơn trong 24 giờ đầu [2], [7].

Hiểu lầm thứ hai là nhầm lẫn phản ứng đầy bụng, tiêu chảy sau khi uống nước ngọt hay nước ép với dị ứng thực phẩm. Một báo cáo năm 2016 chỉ rõ dị ứng thực phẩm thực sự tương đối hiếm gặp ở người mắc hội chứng ruột kích thích, nhưng tình trạng kém hấp thu fructose lại xảy ra rất thường xuyên và chính sự kém hấp thu này làm trầm trọng thêm triệu chứng tiêu chảy, đầy hơi [1].

Ai nên đặc biệt thận trọng?

Nhóm đầu tiên cần lưu ý là trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ mới biết đi [7], [5]. Hệ thống vận chuyển fructose ở ruột trẻ chưa hoàn thiện, khiến trẻ rất dễ bị tiêu chảy khi uống nhiều nước ép trái cây [5]. Hơn nữa, nghiệm pháp thở hydro không có giá trị chẩn đoán rõ ràng ở trẻ dưới 1 tuổi, nên việc theo dõi chủ yếu dựa vào việc loại trừ thực phẩm trong chế độ ăn [5].

Nhóm thứ hai là những người mắc hội chứng ruột kích thích (IBS) hoặc thường xuyên đau bụng chức năng, đầy hơi [2], [1]. Kém hấp thu fructose gặp rất nhiều ở nhóm bệnh nhân này và là tác nhân kích hoạt các đợt tiêu chảy thẩm thấu [2], [1]. Những người có bệnh nền tiêu hóa kéo dài hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi thay đổi chế độ dinh dưỡng.

Cách bù nước và dinh dưỡng thực tế, an toàn

Khi bị tiêu chảy cấp, liệu pháp quan trọng nhất là bù nước nhanh chóng, duy trì cân bằng dịch - điện giải và cung cấp dinh dưỡng hợp lý, thay vì dùng nước ngọt có gas hay nước ép đóng hộp [7]. Người bệnh nên ưu tiên sử dụng dung dịch bù nước và điện giải đường uống (ORS) có độ thẩm thấu thấp hoặc ORS nền axit amin để tận dụng lợi thế hấp thu của ruột trong giai đoạn bệnh cấp tính [7].

Đối với người hay bị rối loạn tiêu hóa hoặc hội chứng ruột kích thích, việc áp dụng chế độ ăn hạn chế fructose (low-fructose diet) đã được chứng minh giúp cải thiện triệu chứng [8], [1]. Người bệnh cần đọc kỹ nhãn thực phẩm để tránh các loại nước ngọt, bánh kẹo chứa siro ngô giàu fructose (HFCS) và đường bổ sung, cũng như tránh các loại nước ép có cả fructose cao lẫn sorbitol [7], [1].

Nếu muốn sử dụng thực phẩm hoặc đồ uống có vị ngọt tự nhiên khi đường ruột đã ổn định hơn, hãy ưu tiên chuyển đổi sang các loại có nồng độ đường glucose và fructose cân bằng nhau (equimolar) và không chứa sorbitol [8], [7]. Sự có mặt tương đương của glucose sẽ giúp ruột hấp thu fructose trọn vẹn hơn và ngăn ngừa cơn đau bụng, tiêu chảy [8].

Nhìn chung, nước ngọt có gas và nước trái cây đóng hộp chứa nhiều đường fructose tự do không phải là lựa chọn phù hợp khi đang tiêu chảy vì sẽ kéo thêm nước vào lòng ruột. Bù dịch bằng dung dịch điện giải chuẩn và duy trì chế độ ăn giảm đường công nghiệp là giải pháp an toàn giúp đường ruột nhanh hồi phục. Nếu tình trạng tiêu chảy kéo dài hoặc đi kèm dấu hiệu mất nước, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được bác sĩ thăm khám kịp thời.