Nhiều người thường mặc định rằng hễ bị tăng huyết áp thì việc đầu tiên phải làm là cắt giảm tối đa lượng muối trong khẩu phần ăn hàng ngày. Thói quen kiêng khem này rất phổ biến ở người lớn tuổi hoặc người mắc bệnh tim mạch mạn tính, dẫn đến việc không ít phụ nữ mang thai vội vã loại bỏ hoàn toàn gia vị mặn khi thấy chỉ số huyết áp tăng cao.

Tuy nhiên, câu trả lời từ y học hiện đại cho thấy việc giảm muối nghiêm ngặt khi bị tăng huyết áp thai kỳ không mang lại hiệu quả điều trị, thậm chí còn tiềm ẩn nhiều rủi ro nguy hiểm cho cả mẹ lẫn thai nhi [1]. Việc kiêng khem quá mức có thể làm cạn kiệt thể tích tuần hoàn, đe dọa trực tiếp đến lưu lượng máu nuôi dưỡng nhau thai.

Nghịch lý hạ huyết áp: Thói quen tốt ngoài đời có đúng với thai kỳ?

Ở người không mang thai, thói quen ăn mặn với hàm lượng natri cao thường liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của bệnh tăng huyết áp mạn tính [2]. Do đó, việc hạn chế muối từ lâu đã được công nhận là một chiến lược can thiệp không dùng thuốc hiệu quả nhằm kiểm soát và đưa chỉ số huyết áp về mức an toàn [2].

Khi bước vào thai kỳ và đối mặt với hội chứng tăng huyết áp, nhiều thai phụ theo phản xạ tự nhiên đã áp dụng ngay chế độ ăn nhạt tuyệt đối với hy vọng bảo vệ bản thân và thai nhi. Dẫu vậy, các dữ liệu nghiên cứu về mối liên hệ giữa lượng natri tiêu thụ và các rối loạn tăng huyết áp thai kỳ hiện vẫn còn rất hạn chế và ghi nhận nhiều kết quả trái ngược [2].

Các tổng quan y khoa cho thấy dù huyết áp cao trước thai kỳ làm tăng nguy cơ biến chứng, hiện chưa có bằng chứng thuyết phục nào chứng minh giảm muối trong khẩu phần giúp phòng ngừa hay điều trị tăng huyết áp thai kỳ [1]. Chính vì lý do này, các hướng dẫn sản khoa hiện hành trên thế giới đều không khuyến cáo hạn chế natri trong thai kỳ như một biện pháp ngăn ngừa tăng huyết áp thai kỳ hay tiền sản giật [1].

Cơ chế tuần hoàn mẹ - con: Vì sao muối lại quan trọng khi mang thai?

Để hiểu tại sao giảm muối không có lợi, cần nhìn vào những thay đổi sinh lý kỳ diệu nhưng phức tạp của cơ thể mẹ trong suốt chín tháng mang thai. Khác với người bình thường, hệ tuần hoàn của người mẹ phải tăng mạnh thể tích máu nội mạch để vừa nuôi dưỡng các cơ quan của mẹ, vừa bơm máu liên tục qua bánh nhau nhằm cung cấp oxy và dưỡng chất cho thai nhi.

Natri chính là chất điện giải chủ đạo giúp giữ nước và duy trì thể tích lòng mạch cần thiết cho sự giãn nở sinh lý này. Trong các rối loạn tăng huyết áp thai kỳ, đặc biệt là tiền sản giật, thực chất lòng mạch của người mẹ không hề thừa nước mà lại bị co thắt và thoát mạch, dẫn đến giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng [3].

Khi thể tích tuần hoàn hiệu dụng bị sụt giảm nghiêm trọng, cơ thể mẹ sẽ phản ứng bằng cách giải phóng hormon chống bài niệu (ADH) không do thẩm thấu nhằm nỗ lực giữ nước [3]. Nếu người mẹ lại tiếp tục ăn nhạt nghiêm ngặt, tình trạng thiếu hụt natri máu sẽ tiến triển nhanh chóng, không chỉ làm suy giảm thêm tưới máu tử cung - nhau thai mà còn làm tăng nguy cơ co giật nguy hiểm [3].

Bằng chứng khoa học: Giảm muối không giúp hạ huyết áp thai kỳ

Mối nghi ngờ về tác dụng của việc ăn nhạt đối với thai phụ đã được các nhà khoa học kiểm chứng từ nhiều thập kỷ trước thông qua các can thiệp lâm sàng cụ thể. Một nghiên cứu công bố năm 1994 đã tiến hành so sánh tác động của chế độ ăn giảm muối nghiêm ngặt (dưới 5 gam muối mỗi ngày) trên bệnh nhân suy thận mạn, bệnh nhân tăng huyết áp vô căn và thai phụ bị tăng huyết áp thai kỳ [4].

Kết quả thử nghiệm cho thấy ở nhóm bệnh nhân suy thận mạn tính, huyết áp trung bình đã giảm rõ rệt từ 115,3 mmHg xuống 92,1 mmHg sau khi giảm muối [4]. Tương tự, ở nhóm tăng huyết áp vô căn thông thường, chỉ số huyết áp trung bình cũng hạ từ mức 117,7 mmHg xuống 108,5 mmHg [4].

Trái ngược hoàn toàn với hai nhóm trên, huyết áp của các thai phụ bị tăng huyết áp thai kỳ không hề thay đổi đáng kể sau khi áp dụng chế độ ăn giảm muối [4]. Không những không hạ được huyết áp, tỷ lệ CUA/Ccr (chỉ số phản ánh thể tích huyết tương) ở các thai phụ này đã giảm mạnh từ 8,7% xuống chỉ còn 3,8% [4]. Các tác giả kết luận rằng ăn nhạt dưới 5 gam muối mỗi ngày không những không hiệu quả mà còn thúc đẩy tình trạng cạn kiệt thể tích lòng mạch diễn ra nhanh hơn ở bệnh nhân tiền sản giật [4].

Bên cạnh đó, một nghiên cứu tiền cứu quy mô lớn năm 2023 trên 7.458 phụ nữ mang thai con so đã khảo sát mức tiêu thụ natri trước khi thụ thai [2]. Những người tham gia được chia thành ba nhóm tiêu thụ natri gồm nhóm thấp (dưới 2 gam/ngày), nhóm trung bình (2 đến dưới 3 gam/ngày) và nhóm cao (từ 3 gam/ngày trở lên) [2]. Kết quả theo dõi chỉ ra rằng nguy cơ phát triển các rối loạn tăng huyết áp thai kỳ là hoàn toàn tương đương giữa các nhóm, với tỷ số nguy cơ đã hiệu chỉnh giữa nhóm trung bình so với nhóm thấp là 1,10 [2].

Hai thể tiền sản giật: Nguy cơ tiềm ẩn từ việc cắt giảm muối tùy tiện

Sở dĩ việc giảm muối tạo ra nhiều tranh cãi là bởi tiền sản giật thực chất là một hội chứng phức tạp và không đồng nhất giữa các cá thể người bệnh [5]. Theo phân loại y học hiện đại, bệnh lý này được chia làm hai thể chính với cơ chế huyết động và tuần hoàn hoàn toàn trái ngược nhau [5].

Thể thứ nhất là tiền sản giật khởi phát sớm (xuất hiện trước tuần thứ 34 của thai kỳ), bản chất là bệnh lý bắt nguồn từ khiếm khuyết bánh nhau [5]. Thể bệnh này đặc trưng bởi hiện tượng co thắt mạch máu toàn thân, cung lượng tim thấp, tưới máu bánh nhau suy giảm nghiêm trọng và tổn thương cơ quan mẹ do giảm vi tuần hoàn [5]. Việc hạn chế natri nghiêm ngặt ở thể khởi phát sớm được xem là có hại vì càng làm tụt giảm thể tích tuần hoàn và lưu lượng máu qua nhau [5].

Thể thứ hai là tiền sản giật khởi phát muộn, thường gặp ở những thai phụ có sẵn tình trạng béo phì, đái tháo đường hoặc bất thường tim mạch [5]. Ở thể này, thận của người mẹ tái hấp thu natri rất mạnh, dẫn đến tình trạng tăng thể tích máu tuần hoàn, tăng cung lượng tim và giãn mạch gây ứ trệ tĩnh mạch ở các cơ quan [5]. Với thể khởi phát muộn, việc tiết chế bớt natri có thể là giải pháp khả thi hơn, song cho đến nay giới y khoa vẫn chưa thể đưa ra một khuyến cáo lượng muối chung thống nhất cho tất cả các ca bệnh [5].

Những rủi ro đối với sự phát triển của thai nhi khi can thiệp vào các chuyển hóa muối và mạch máu cũng từng được cảnh báo qua các mô hình thực nghiệm động vật. Trong một nghiên cứu năm 2020 trên chuột Dahl nhạy cảm với muối mang thai (mô hình tiền sản giật), việc can thiệp bằng hợp chất natri thiosulfate liều cao dù giúp hạ huyết áp nhưng lại làm tăng lượng đạm niệu và giảm tỷ lệ trọng lượng thai nhi trên nhau thai [6]. Điều này cho thấy bất kỳ sự điều chỉnh nào tác động đến tuần hoàn nhau thai đều có thể gây ảnh hưởng bất lợi tới sự phát triển của thai nhi nếu chưa được kiểm chứng độ an toàn toàn diện [6].

Khi thừa muối vẫn là một mối nguy: Góc nhìn từ các nghiên cứu quốc tế

Mặc dù việc ăn nhạt khắt khe bị phản đối, điều đó không đồng nghĩa với việc thai phụ được phép ăn mặn vô tội vạ. Tình trạng tiêu thụ quá mức natri từ thực phẩm chế biến sẵn hoặc từ nguồn nước sinh hoạt vẫn là tác nhân kích hoạt các phản ứng viêm và biến chứng tim mạch nguy hiểm [7].

Một nghiên cứu bệnh chứng tại Colombia ghi nhận rằng mức tiêu thụ natri trong chế độ ăn vượt quá 2200 mg mỗi ngày làm tăng nguy cơ mắc tiền sản giật lên gấp 3,18 lần [7]. Một nghiên cứu khác tại Cairo (Ai Cập) cũng chỉ ra chế độ ăn nhiều muối làm tăng nguy cơ tiền sản giật với tỷ số chênh là 1,99 [7]. Dù vậy, một tổng quan hệ thống của Cochrane tổng hợp từ hai thử nghiệm lâm sàng trên 603 thai phụ đã kết luận rằng các bằng chứng khoa học hiện tại vẫn chưa đủ để đưa ra kết luận dứt khoát về lợi ích của chế độ ăn ít muối đối với thai kỳ [7].

Về mặt sinh học, tình trạng dư thừa muối quá mức có thể thúc đẩy stress oxy hóa ở những cơ thể nhạy cảm với muối, gây rối loạn chức năng nội mô mạch máu và khởi phát các biểu hiện lâm sàng của tiền sản giật [7]. Đồng thời, sự rối loạn hoạt động của hệ thống renin-angiotensin-aldosterone vốn điều hòa cân bằng natri trong cơ thể cũng làm tăng tính nhạy cảm với muối của hệ mạch máu [7].

Mối liên hệ giữa các rối loạn này với tiên lượng sản khoa là rất nặng nề. Phân tích từ Thử nghiệm Chăm sóc Tiền sản của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trên 39.615 thai kỳ cho thấy có 2,2% trường hợp bị tiền sản giật và 7,0% bị tăng huyết áp thai kỳ [8]. Cả hai tình trạng bệnh lý này đều làm tăng đáng kể nguy cơ tử vong thai nhi, sinh non cũng như các biến chứng bệnh tật nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh [8].

Những hiểu lầm phổ biến về ăn nhạt khi mang thai

Hiểu lầm lớn nhất của các thai phụ là đồng nhất cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp thông thường với tăng huyết áp trong thai kỳ. Khi thấy chỉ số huyết áp vượt ngưỡng 140/90 mmHg, người mẹ thường hoảng sợ và loại bỏ hoàn toàn muối ăn, bột nêm và nước mắm ra khỏi các bữa ăn hàng ngày.

Tuy nhiên, tăng huyết áp thai kỳ nói chung và tiền sản giật nói riêng là bệnh lý xuất hiện sau tuần thứ 20 của thai kỳ, có liên quan mật thiết đến sự phát triển của bánh nhau và các biến đổi vi mạch phức tạp [6]. Giảm lượng muối nạp vào không giải quyết được căn nguyên co thắt mạch hay tổn thương tế bào nội mô của bệnh lý này [7].

Một hiểu lầm khác là cho rằng ăn nhạt hoàn toàn sẽ giúp giảm bớt hiện tượng phù chân trong những tháng cuối mang thai. Phù chân sinh lý ở thai phụ phần lớn do áp lực của tử cung chèn ép lên tĩnh mạch chủ dưới làm cản trở máu hồi lưu về tim, chứ không đơn thuần do ứ muối. Việc kiêng muối tuyệt đối không giúp giải quyết dứt điểm tình trạng phù cơ học này, mà ngược lại còn làm trầm trọng thêm sự thiếu hụt thể tích tuần hoàn trong lòng mạch [4].

Nhóm thai phụ nào cần đặc biệt cẩn trọng?

Tiền sản giật biến chứng trên khoảng 3% đến 5% tổng số các thai kỳ trên toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở cả mẹ và chu sinh [6]. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng tăng huyết áp kèm theo tổn thương cơ quan của người mẹ (như có protein trong nước tiểu) và tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung [6].

Theo các dữ liệu dịch tễ từ nghiên cứu của WHO trên gần 40.000 phụ nữ mang thai, những người có bệnh lý đái tháo đường, bệnh lý thận hoặc tim mạch, tiền sử từng bị tiền sản giật, nhiễm trùng đường tiết niệu, mang đa thai, béo phì hoặc mang thai ở độ tuổi lớn đều có nguy cơ rất cao phát triển cả tăng huyết áp thai kỳ và tiền sản giật [8]. Bên cạnh đó, tình trạng mang thai con so cũng là một yếu tố nguy cơ độc lập riêng biệt của tiền sản giật [8].

Những thai phụ thuộc nhóm nguy cơ cao kể trên tuyệt đối không được tự ý điều chỉnh chế độ ăn uống một cách cực đoan khi phát hiện huyết áp tăng. Việc tự ý cắt giảm hoàn toàn lượng muối nạp vào mà không có sự theo dõi sát sao của bác sĩ chuyên khoa sản có thể đẩy thai nhi vào tình trạng suy dinh dưỡng, thai chậm tăng trưởng và suy thai mạn tính do giảm tưới máu bánh nhau kéo dài [5].

Hướng dẫn thực hành dinh dưỡng: Cân bằng lượng muối an toàn cho thai kỳ

Thay vì áp dụng chế độ ăn kiêng muối khắt khe hay ăn mặn thái quá, thai phụ cần duy trì một lượng muối ở mức sinh lý cân bằng để bảo vệ thể tích tuần hoàn nội mạch. Thai phụ không nên nấu các món ăn quá nhạt nhẽo đến mức khó ăn, bởi điều này còn gián tiếp làm suy giảm cảm giác ngon miệng và dẫn đến thiếu hụt năng lượng nuôi dưỡng thai nhi.

Trong sinh hoạt hàng ngày, thai phụ nên ưu tiên nêm nếm thức ăn ở mức vừa miệng bằng lượng muối ăn hoặc gia vị thông thường vừa phải. Cần hạn chế các nguồn muối ẩn có hại đến từ thực phẩm chế biến công nghiệp như thịt nguội, xúc xích, đồ hộp, mì ăn liền và các loại snack đóng gói nhiều natri. Khi chế biến tại nhà, việc ưu tiên các món hấp, luộc và nấu canh thanh đạm sẽ giúp kiểm soát lượng gia vị nạp vào tốt hơn so với các món kho đậm đà hay đồ xào nhiều mỡ.

Bên cạnh việc giữ lượng muối hợp lý, người mẹ cần bổ sung đầy đủ nước mỗi ngày, ăn nhiều rau củ quả tươi giàu kali và duy trì chế độ nghỉ ngơi điều độ. Mọi bất thường về chỉ số huyết áp, dấu hiệu đau đầu, hoa mắt, nhìn mờ hoặc phù tăng nhanh bất thường cần được thăm khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được theo dõi và chỉ định phác đồ điều trị phù hợp nhất.

Tóm lại, tăng huyết áp thai kỳ là một bệnh lý mạch máu đặc thù đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa theo dõi y khoa và chăm sóc dinh dưỡng đúng đắn. Việc giảm muối nghiêm ngặt không phải là chiếc chìa khóa vạn năng để hạ huyết áp khi mang thai mà trái lại có thể gây tổn hại cho thể tích máu nuôi dưỡng thai nhi [4]. Hãy duy trì một chế độ ăn uống cân bằng, lắng nghe cơ thể và luôn tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ sản khoa trước mọi quyết định can thiệp dinh dưỡng trong thai kỳ.