Nhiều người Việt có thói quen che chắn kín mít khi ra nắng, ít vận động ngoài trời nên dễ rơi vào tình trạng thiếu vitamin D mà không hay biết. Khi nghe thông tin thiếu hụt vi chất này có thể làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não và khiến quá trình hồi phục sau đột quỵ trở nên nặng nề hơn, không ít độc giả băn khoăn liệu điều này có đúng sự thật.

Các bằng chứng khoa học hiện nay cho thấy câu trả lời là có mối liên hệ. Nhiều nghiên cứu ghi nhận nồng độ 25-hydroxyvitamin D — viết tắt là 25(OH)D, dạng đo lường vitamin D trong máu — thấp có tương quan chặt chẽ với mức độ tổn thương thần kinh nặng hơn khi mới nhập viện vì đột quỵ thiếu máu cục bộ [1]. Bên cạnh đó, người thiếu vitamin D cũng thường đối mặt với thời gian nằm viện dài hơn và điểm số phục hồi chức năng kém hơn lúc xuất viện, dù mức độ dự báo ở giai đoạn 3 tháng sau đột quỵ vẫn còn những kết quả chưa đồng nhất giữa các nghiên cứu [2].

Vitamin D tác động thế nào đến mạch máu não và quá trình hồi phục?

Đột quỵ thiếu máu cục bộ xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế trên toàn cầu [1]. Để đánh giá mức độ nặng của đột quỵ lúc mới nhập viện, các bác sĩ thường dùng thang điểm đột quỵ của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIHSS) — điểm càng cao nghĩa là khiếm khuyết thần kinh càng nặng [1]. Trong khi đó, khả năng tự lập và mức độ tàn tật sau điều trị thường được đo bằng thang điểm Rankin hiệu chỉnh (mRS) [3].

Vitamin D không chỉ phục vụ hệ xương khớp mà còn tham gia trực tiếp vào sức khỏe hệ tim mạch và mạch máu não. Nghiên cứu năm 2020 cho biết vitamin D được báo cáo có khả năng kích thích giãn mạch và làm giảm áp lực động mạch [4]. Ngoài ra, một tổng quan năm 2018 chỉ ra rằng vitamin D có thể ức chế sự hình thành huyết khối (cục máu đông), từ đó lý giải mối liên hệ giữa việc thiếu hụt vi chất này với đột quỵ do tắc mạch [5].

Khi cơ thể thiếu vitamin D, tác động bất lợi lên hệ mạch máu diễn ra theo từng nấc thang [6]. Tình trạng thiếu hụt vitamin D có liên quan độc lập với chứng xơ vữa các mạch máu lớn, đột quỵ do huyết khối tắc mạch và thể tích vùng nhồi máu não lớn hơn [6]. Hơn nữa, thiếu vitamin D còn đi kèm với các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ khác như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, bệnh tim thiếu máu cục bộ và làm mất cân bằng đường huyết với chỉ số HbA1c cao hơn ở người bệnh [2]. Tuy nhiên, tài liệu năm 2018 cũng lưu ý ở chiều ngược lại, vitamin D có thể liên quan đến đột quỵ xuất huyết não thông qua các cơ chế khác như phản ứng viêm và áp lực dòng chảy lên thành mạch [5].

Các nghiên cứu ghi nhận gì về mức độ nặng khi nhập viện?

Nhiều công trình nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau đã khảo sát trực tiếp mối tương quan giữa nồng độ 25(OH)D huyết thanh và điểm số NIHSS lúc nhập viện. Một nghiên cứu quan sát tiến cứu công bố năm 2024 tại trường Y Saveetha (Chennai) đã theo dõi 86 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên bị đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính, nhập viện trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát triệu chứng [1]. Nhóm nghiên cứu loại trừ các ca đột quỵ xuất huyết, người có bệnh ảnh hưởng chuyển hóa vitamin D hoặc đang uống bổ sung vitamin D [1]. Kết quả đo 25(OH)D bằng phương pháp miễn dịch phát quang hóa học (CLIA) trong 24 giờ đầu cho thấy mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ 25(OH)D và điểm NIHSS lúc nhập viện (hệ số tương quan r = -0,4081, p < 0,001) [1]. Phân tích hồi quy đa biến sau khi hiệu chỉnh theo tuổi, giới tính và bệnh nền vẫn khẳng định nồng độ 25(OH)D thấp gắn liền với triệu chứng đột quỵ nặng hơn (hệ số beta = -0,3994, p < 0,001) [1].

Trước đó, một nghiên cứu cắt ngang năm 2020 trên các bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ tại Trung Quốc cũng xác nhận thiếu vitamin D liên quan đến mức độ nặng của đột quỵ đo bằng thang điểm NIHSS [4]. Nghiên cứu này chỉ ra các yếu tố nguy cơ của thiếu hụt vitamin D ở bệnh nhân đột quỵ bao gồm giới tính nữ, mức độ nặng NIHSS và chỉ số FIB [4]. Đáng chú ý, tác giả đặt giả thuyết rằng nồng độ vitamin D huyết thanh thấp cũng có thể là hệ quả sau khi cơn đột quỵ xảy ra [4].

Một nghiên cứu bệnh - chứng năm 2017 khảo sát sự khác biệt giữa đột quỵ mạch máu nhỏ và mạch máu lớn đã ghi nhận thiếu vitamin D làm tăng nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ lên gần 7 lần [6]. Nếu xét riêng từng nhóm so với nhóm chứng, nguy cơ đột quỵ mạch máu lớn tăng tới 13 lần, trong khi nhóm mạch máu nhỏ tăng 4,37 lần [6]. Ở nhóm bệnh nhân tổn thương mạch máu nhỏ, dù nồng độ vitamin D trung bình vẫn ở ngưỡng đủ nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với người khỏe mạnh [6]. Hạn chế của nghiên cứu năm 2017 này là cỡ mẫu còn nhỏ, cần thêm các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn hơn [6].

Mối liên hệ giữa nồng độ 25(OH)D và điểm phục hồi chức năng

Không chỉ dừng lại ở mức độ nặng lúc cấp cứu, nồng độ 25(OH)D còn phản ánh khả năng phục hồi chức năng của người bệnh. Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu công bố năm 2022 tại thành phố y tế King Abdulaziz (Ả Rập Xê Út) đã sàng lọc 774 hồ sơ và chọn ra 294 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ trưởng thành nhập viện trong vòng 7 ngày kể từ khi có triệu chứng [3]. Bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 68,2 ± 13,4 tuổi, trong đó nam giới chiếm 49,3% [3]. Dựa trên nồng độ 25(OH)D, người bệnh được chia thành 3 nhóm: mức bình thường từ 75 nmol/L trở lên (35 người, chiếm 11,9%), mức chưa đủ từ 50 đến 75 nmol/L (66 người, chiếm 22,5%) và mức thiếu hụt từ 50 nmol/L trở xuống (196 người, chiếm 65,6%) [3]. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mối liên hệ nghịch giữa nồng độ 25(OH)D và điểm NIHSS lúc nhập viện (hệ số beta: -0,04, sai số chuẩn SE: 0,01, p = 0,003) [3]. Quan trọng hơn, những bệnh nhân thuộc nhóm thiếu hụt vitamin D có nguy cơ suy giảm khả năng tự lập chức năng cao hơn đáng kể trên thang điểm mRS lúc xuất viện [3].

Tương tự, nghiên cứu cắt ngang năm 2022 tại Iran trên 104 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ nhập viện trong 24 giờ đầu và 104 người khỏe mạnh làm nhóm chứng cũng đo nồng độ 25(OH)D3 cùng thang điểm NIHSS, mRS [7]. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm về tình trạng thiếu vitamin D3, tăng huyết áp, hút thuốc lá, nồng độ mỡ máu LDL và đường huyết lúc đói (FBS) [7]. Thiếu vitamin D3 làm tăng nguy cơ đột quỵ ở nam giới và người có tiền sử gia đình bị tai biến [7]. Nồng độ 25(OH)D3 thấp gắn liền với bệnh cảnh nặng hơn và kết cục phục hồi kém hơn; trong đó mức độ nặng ban đầu, thiếu vitamin D3 và tăng huyết áp là các yếu tố dự báo kết cục xấu [7].

Tại miền Bắc Ấn Độ, một nghiên cứu bệnh - chứng quan sát năm 2023 đã thực hiện trên 150 người, gồm 75 ca đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính và 75 người nhóm chứng [8]. Ở nhóm bệnh nhân, các yếu tố nguy cơ phổ biến nhất là tăng huyết áp (61,3%), đái tháo đường (41,3%) và hút thuốc lá (37,3%) [8]. Có tới 49,4% bệnh nhân bị thiếu hụt vitamin D nghiêm trọng và 30,6% ở mức chưa đủ [8]. Nghiên cứu tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa việc đủ vitamin D với tỷ lệ mắc đột quỵ (x2 = 3,888, p = 0,048), cũng như giữa nồng độ vitamin D với điểm NIHSS lúc nhập viện (p = 0,03) [8]. Nhóm tác giả kết luận mức độ thiếu vitamin D càng nặng thì tỷ lệ tử vong và kết cục xấu trên thang điểm mRS càng cao [8].

Khi nào vitamin D không dự báo được điểm phục hồi?

Dù nhiều nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ với kết cục lúc xuất viện, bằng chứng về khả năng dự báo phục hồi ở mốc thời gian xa hơn vẫn có sự khác biệt. Một phân tích hồi cứu công bố năm 2019 đã theo dõi 356 bệnh nhân bị đột quỵ thiếu máu cục bộ lần đầu tiên trong giai đoạn 2013–2015 [2]. Nhóm nghiên cứu đo nồng độ 25(OH)D ban đầu, đánh giá độ nặng bằng điểm NIHSS lúc nhập viện và đánh giá lại khả năng phục hồi chức năng sau 3 tháng bằng thang điểm mRS [2].

Kết quả trên 356 bệnh nhân cho thấy nhóm thiếu hoặc chưa đủ vitamin D có chỉ số đường huyết HbA1c cao hơn so với nhóm đủ vitamin D (6,3 ± 1,7 so với 5,9 ± 1,1, p = 0,015) [2]. Thời gian nằm viện ở nhóm thiếu hoặc chưa đủ vitamin D cũng kéo dài hơn, trung bình 11 ngày (khoảng tứ phân vị 8–17 ngày) so với 9,5 ngày (7–13 ngày) ở nhóm đủ vi chất (p = 0,035) [2]. Phân tích hồi quy logistic xác nhận nồng độ 25(OH)D tỉ lệ nghịch với thời gian nằm viện (OR 0,960, p = 0,031), chứng tỏ nồng độ 25(OH)D thấp là yếu tố dự báo độc lập làm tăng số ngày điều trị nội trú [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu này kết luận tình trạng thiếu vitamin D ban đầu không dự báo được kết cục phục hồi chức năng trên thang điểm mRS ở thời điểm 3 tháng sau đột quỵ [2].

Bên cạnh đó, lý do khiến kết quả giữa các công trình nghiên cứu có sự dao động là vì mỗi nơi áp dụng một ngưỡng cắt (cut-off) nồng độ 25(OH)D khác nhau [4]. Chẳng hạn, có nghiên cứu dùng ngưỡng dưới 45 nmol/L thì không tìm thấy mối liên hệ rõ rệt, trong khi nghiên cứu khác dùng ngưỡng dưới 35 nmol/L lại cho kết quả có ý nghĩa thống kê [4]. Nghiên cứu năm 2020 tại Trung Quốc nhận định ngưỡng dưới 50 nmol/L phù hợp để xác định thiếu hụt trong lâm sàng, còn mức từ 75 nmol/L trở lên là ngưỡng lý tưởng cho sức khỏe [4].

Những hiểu lầm thường gặp về bổ sung vitamin D và đột quỵ

Hiểu lầm phổ biến nhất là tin rằng chỉ cần uống thật nhiều viên bổ sung vitamin D sẽ tránh được hoàn toàn đột quỵ hoặc giúp người liệt nửa người đi lại ngay lập tức. Thực tế, báo cáo năm 2020 nhấn mạnh rằng dù có thông tin việc bổ sung vitamin D giúp giảm nguy cơ đột quỵ và cải thiện kết cục, các bằng chứng về hiệu quả của việc uống bổ sung vẫn chưa ngã ngũ (inconclusive) [4]. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu là nghiên cứu quan sát, cắt ngang hoặc hồi cứu, tức là ghi nhận mối tương quan chứ chưa khẳng định chắc chắn việc uống thuốc bổ sung sau khi đã đột quỵ sẽ đảo ngược được di chứng [1].

Hiểu lầm thứ hai là cho rằng vitamin D chỉ tác động giống nhau ở mọi loại đột quỵ. Tài liệu năm 2018 chỉ ra thiếu hụt vitamin D làm tăng nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ cao hơn so với đột quỵ xuất huyết não [5]. Thậm chí, vitamin D có thể liên quan đến xuất huyết não qua cơ chế viêm và áp lực thành mạch [5]. Ngoài ra, mối liên hệ giữa nồng độ 25(OH)D thấp với nguy cơ đột quỵ vẫn giữ nguyên độ mạnh sau khi đã loại trừ yếu tố mùa lấy máu, huyết áp tâm thu, chỉ số khối cơ thể (BMI), rung nhĩ hay việc đang dùng thuốc hạ áp, aspirin, statin; đồng thời không có sự khác biệt thống kê giữa người da đen và người da trắng [5].

Ai nên thận trọng và lưu ý đặc biệt?

Các bác sĩ lâm sàng được khuyến cáo cần theo dõi sát nồng độ vitamin D ở những bệnh nhân bị đột quỵ thiếu máu cục bộ [4]. Trong cộng đồng, những nhóm đối tượng cần đặc biệt chú ý kiểm tra và kiểm soát tình trạng thiếu hụt vitamin D bao gồm người có sẵn các bệnh lý nền như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu (tăng LDL), bệnh tim thiếu máu cục bộ và người có thói quen hút thuốc lá hoặc lạm dụng rượu bia lâu ngày [7].

Xét về yếu tố nhân khẩu học, cả nam giới và nữ giới đều có những rủi ro riêng: nữ giới là một trong những yếu tố nguy cơ của thiếu hụt vitamin D ở bệnh nhân đột quỵ theo nghiên cứu tại Trung Quốc [4], trong khi tại Iran, thiếu hụt vitamin D3 làm tăng mạnh nguy cơ đột quỵ ở nam giới và những người có tiền sử gia đình bị tai biến mạch máu não [7]. Những người có bệnh lý ảnh hưởng đến chuyển hóa vitamin D hoặc người có nguy cơ xuất huyết não tuyệt đối không tự ý dùng liều cao mà phải hỏi ý kiến bác sĩ điều trị [1].

Áp dụng thực tế để bảo vệ mạch máu não

Để duy trì nồng độ 25(OH)D huyết thanh ở mức tối ưu (từ 75 nmol/L trở lên và tránh tụt xuống dưới ngưỡng thiếu hụt 50 nmol/L) [3], người dân nên kết hợp lối sống lành mạnh và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Trong sinh hoạt hằng ngày, việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hợp lý và duy trì chế độ ăn cân bằng giàu dưỡng chất kết hợp uống đủ nước là nền tảng cơ bản giúp cơ thể tổng hợp và hấp thu vi chất tự nhiên.

Quan trọng hơn, vì thiếu hụt vitamin D thường cộng hưởng với tăng huyết áp, đái tháo đường và hút thuốc lá để làm nặng thêm mức độ đột quỵ [7], người dân cần kiểm soát chặt đường huyết (chỉ số FBS, HbA1c), mỡ máu và bỏ thuốc lá [2]. Khi đi khám sức khỏe định kỳ, người có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch có thể trao đổi với bác sĩ về việc xét nghiệm định lượng 25(OH)D huyết thanh để biết chính xác tình trạng của cơ thể, từ đó có hướng bổ sung an toàn nếu thực sự thiếu hụt [4].

Tóm lại, nồng độ 25(OH)D huyết thanh thấp có mối tương quan rõ rệt với mức độ tổn thương thần kinh nặng hơn khi nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện và làm tăng nguy cơ phục hồi chức năng kém lúc xuất viện ở người bị đột quỵ thiếu máu cục bộ. Tuy nhiên, việc bổ sung vitamin D không thể thay thế phác đồ điều trị chuẩn hay kiểm soát huyết áp, đường huyết. Người có bệnh nền tim mạch nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được xét nghiệm và tư vấn liều lượng phù hợp, tránh tự ý dùng thuốc truyền miệng.