Thói quen sắc nước các loại củ thuộc chi Củ nâu (Dioscorea) như nần nghệ (Dioscorea collettii) để uống hàng ngày nhằm hỗ trợ hạ mỡ máu, giảm axit uric đang rất phổ biến. Tuy nhiên, việc uống các loại củ thảo dược này kéo dài hàng tháng trời khiến nhiều người lo lắng về nguy cơ tổn thương gan, thận âm thầm.

Câu trả lời ngắn gọn từ các dữ liệu khoa học hiện có là: Độ an toàn phụ thuộc hoàn toàn vào chính xác loài thảo dược bạn sử dụng và thời gian dùng. Trong cùng chi Dioscorea, có những loài không gây độc ở liều đơn cao [1], nhưng có loài lại chứa độc tố mạnh gây tổn thương gan, thận rõ rệt khi dùng liên tục từ 14 đến 30 ngày [2] [3] [4], thậm chí gây tương tác nguy hiểm với thuốc điều trị bệnh [5].

Phân biệt các loài trong chi Dioscorea và rủi ro nhầm lẫn

Nần nghệ có tên khoa học là Dioscorea collettii, một loài cây thân thảo sống lâu năm thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae), phân bố rộng rãi ở khu vực Tây Nam Trung Quốc, Myanmar và Ấn Độ [6]. Trong y học cổ truyền, thân rễ của Dioscorea collettii thường được phối hợp với phân loài Dioscorea collettii var. hypoglauca để hỗ trợ điều trị viêm khớp do gút, tăng axit uric máu, mỡ máu cao, tình trạng viêm và khối u [6]. Thành phần hoạt chất chính làm nên công dụng của nần nghệ (Dioscorea collettii) là các saponin steroid [6].

Tuy nhiên, chi Dioscorea có rất nhiều loài có hình thái củ và tên gọi dân gian dễ gây nhầm lẫn, phổ biến nhất là Dioscorea bulbifera L. (thường gọi là hoàng dược tử hoặc củ dại), Dioscorea hispida (củ nần, củ ba thấu), Dioscorea villosa và Dioscorea oppositifolia [5] [1]. Thân rễ của Dioscorea bulbifera L. cũng là thảo dược phổ biến dùng trị bướu cổ, u vú và khối u [7].

Sự khác biệt về thành phần hóa học giữa các loài này quyết định ranh giới giữa thuốc và độc chất. Trong khi một số loài bước đầu cho thấy tính an toàn ở liều cấp tính [1], thì loài Dioscorea bulbifera L. lại nổi tiếng với nguy cơ gây độc tính nghiêm trọng cho gan và thận [2] [7]. Tại Trung Quốc, hơn 100 ca tổn thương gan ở người do sử dụng Dioscorea bulbifera L. đã được ghi nhận trong suốt nửa thế kỷ qua [7].

Cơ chế gây hại gan, thận khi dùng kéo dài của nhóm có độc

Khi đi vào cơ thể qua đường uống trong thời gian dài, cơ quan đích chịu sự tấn công trực tiếp của loài có độc như Dioscorea bulbifera L. chính là gan và thận [2]. Thủ phạm chính gây hại gan trong thân rễ Dioscorea bulbifera L. được xác định là các hợp chất furanoditerpenoid, cụ thể là diosbulbin B (DSB/DIOB) và 8-epidiosbulbin E (EEA) [7] [4].

Quá trình gây độc diễn ra ngay khi gan thực hiện chức năng chuyển hóa của mình. Các hợp chất furanoditerpenoid này bị oxy hóa vòng furan bởi hệ thống enzyme cytochrome P450 tại gan, mà chịu trách nhiệm chính là phân họ enzyme P450 3A [7]. Phản ứng oxy hóa này tạo ra các chất trung gian cis-enedial có hoạt tính phản ứng rất mạnh, chúng gắn kết trực tiếp vào các đại phân tử của tế bào như protein và DNA, từ đó kích hoạt chuỗi độc tính hủy hoại tế bào gan [7].

Ở cấp độ cấu trúc siêu hiển vi của tế bào, độc chất từ Dioscorea bulbifera L. phá hủy trực tiếp màng ty thể (nhà máy năng lượng của tế bào) và màng lưới nội chất [2]. Hậu quả là hoạt tính của các enzyme quan trọng trong tế bào gan như succinate dehydrogenase (SDH) và glucose-6-phosphatase (G-6-P) bị suy giảm, làm rối loạn toàn bộ quá trình chuyển hóa của tế bào [2].

Bên cạnh đó, độc tố diosbulbin B còn làm suy giảm biểu hiện của protein vận chuyển gan mật Mrp2 [4]. Khi kênh vận chuyển Mrp2 bị chặn, gan không thể bài tiết bilirubin, glutathione disulfide và các axit mật ra ngoài, dẫn đến sự tích tụ các chất độc ngay tại mô gan và gây mất cân bằng oxy hóa - khử nghiêm trọng [4]. Ngoài ra, thảo dược này còn ức chế biểu hiện của P-glycoprotein (P-gp) tại gan và thận — một loại bơm tống thuốc tự nhiên của cơ thể, khiến quá trình đào thải các thuốc dùng kèm bị đình trệ [5].

Nghiên cứu khoa học nói gì về độc tính cấp và bán trường diễn?

Các nghiên cứu thực nghiệm đã phân tích rất kỹ từ hoạt tính tế bào, độc tính liều đơn (cấp tính) cho đến độc tính khi dùng lặp lại nhiều ngày (bán trường diễn) của các loài thuộc chi Dioscorea.

Về bản thân cây nần nghệ (Dioscorea collettii), một nghiên cứu công bố năm 2021 tập trung phân tích thành phần hóa học từ thân rễ loài này đã phân lập được một hợp chất dihydroisocoumarin mới tên là (-)-montroumarin (1a) cùng 5 hợp chất đã biết gồm montroumarin (1b), 1,1'-oxybis(2,4-di-tert-butylbenzene) (2), (3R)-3'-O-methylviolanone (3a), (3S)-3'-O-methylviolanone (3b) và (RS)-sativanone (4) [6]. Khi thử nghiệm độc tính tế bào trên dòng tế bào NCI-H460 trong phòng thí nghiệm, hai hợp chất 1a và 1b thể hiện độc tính tế bào ở mức độ trung bình, trong khi 4 hợp chất còn lại không gây độc tế bào [6]. Giới hạn của nghiên cứu này là mới dừng lại ở việc xác định cấu trúc hóa học và thử nghiệm trên dòng tế bào nuôi cấy, chưa phải thử nghiệm uống dài ngày trên cơ thể sống [6].

Về độ an toàn cấp tính (dùng 1 liều duy nhất), một nghiên cứu công bố năm 2025 đã đánh giá chiết xuất nước của củ Dioscorea hispida trên động vật [1]. Kết quả cho thấy một liều duy nhất lên tới 2.000 mg/kg trọng lượng cơ thể không gây tử vong hay thay đổi hành vi ở động vật thí nghiệm [1]. Các chỉ số men gan (ALT, AST, ALP) ở nhóm dùng liều 2.000 mg/kg tương đương hoặc thấp hơn nhóm thăm dò, nằm trong giới hạn sinh lý bình thường của loài gặm nhấm, chứng tỏ gan không bị tổn thương [1]. Chỉ số chức năng thận là nitơ urê máu (BUN) cũng giữ ở mức sinh lý bình thường [1]. Nghiên cứu này cũng dẫn lại dữ liệu cho thấy chiết xuất nước của loài Dioscorea villosa ở liều 5.000 mg/kg trên chuột cống Wistar và chiết xuất methanol của Dioscorea oppositifolia ở liều 2.000 mg/kg đều không gây tử vong, sụt cân hay ngộ độc [1]. Dù vậy, các tác giả nhấn mạnh giới hạn lớn là đây mới chỉ là dữ liệu liều đơn; bắt buộc phải có các nghiên cứu dùng liều lặp lại để đánh giá tác dụng phụ khi phơi nhiễm kéo dài, xác định độc tính cơ quan đích và mức liều không gây tác dụng phụ quan sát được (NOAEL) trước khi kết luận về độ an toàn dài hạn [1].

Khi chuyển sang các nghiên cứu dùng thuốc kéo dài (bán trường diễn) với loài Dioscorea bulbifera L., bức tranh độc tính trên gan và thận hiện lên rất rõ ràng qua 4 nghiên cứu trên động vật:

Nghiên cứu thứ nhất công bố năm 2003 đánh giá ngộ độc bán cấp Dioscorea bulbifera L. trên 60 con chuột nhắt ICR, chia ngẫu nhiên làm 4 nhóm: 3 nhóm uống dung dịch 200% Dioscorea bulbifera L. ở các mức liều tương ứng 1/4 LD50, 1/10 LD50, 1/30 LD50 và 1 nhóm đối chứng uống nước cất trong thời gian 30 ngày [2]. Kết quả xét nghiệm máu cho thấy nồng độ BUN (chỉ số thận) và ALT (men gan) ở các nhóm dùng thảo dược đều cao hơn nhóm đối chứng [2]. Quan sát mô bệnh học dưới kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử truyền qua phát hiện tế bào gan bị thoái hóa mỡ và tăng tích tụ glycogen; trong khi tại thận xảy ra tình trạng thoái hóa và hoại tử biểu mô ống thận [2].

Nghiên cứu thứ hai cũng công bố năm 2003 tiến hành trên chuột cống nhằm tìm ra phân đoạn gây độc gan của thân rễ Dioscorea bulbifera [8]. Chuột được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm: nhóm chứng (dùng 20% PVP-nước), nhóm T001 (chiết xuất methanol tổng 10%), nhóm F002 (phân đoạn chloroform 5%) và nhóm F003 (phân đoạn methanol 5%) [8]. Thông qua kiểm tra bilirubin trực tiếp (DBil), men gan GPT, chỉ số gan và quan sát mô học dưới kính hiển vi, các nhà khoa học xác định nhóm T001 và F002 gây độc gan rõ rệt, kết luận phân đoạn chiết bằng chloroform chính là phân đoạn chứa độc tố hại gan của loài củ này [8].

Nghiên cứu thứ ba công bố năm 2016 thực hiện trên chuột cống cái chủng SD, cho uống thân rễ Dioscorea bulbifera với liều 9 g/kg mỗi ngày một lần liên tục trong 28 ngày [3]. Sau 28 ngày, mô hình gây độc gan đã hình thành rõ rệt: tế bào gan bị sưng phồng, tan rã kèm theo thoái hóa mỡ, xuất hiện tế bào viêm ở các khoảng kẽ, thoái hóa nước dạng chấm hoặc dạng phiến cục bộ và hoại tử một phần mô gan [3]. Các chỉ số chức năng gan trong huyết thanh gồm ALT, AST và ALP đều tăng cao có ý nghĩa thống kê (P<0,05 hoặc P<0,01) [3]. Đáng chú ý, khi thử nghiệm cho chuột dùng kèm Hoàng cầm (Scutellariae Radix) và Hoàng bá (Phellodendri Chinensis Cortex), bộ đôi thảo dược này đã phát huy tác dụng hiệp đồng bảo vệ gan mạnh mẽ: làm giảm đáng kể men gan ALT, AST, ALP trong máu (P<0,05 hoặc P<0,01), giảm mức độ peroxy hóa lipid (MAD) tại mô gan (P<0,001), đồng thời làm tăng hàm lượng chất chống oxy hóa nội sinh glutathione (GSH) trong mô gan (P<0,001) và cải thiện rõ rệt các tổn thương mô bệnh học [3].

Nghiên cứu thứ tư công bố năm 2017 tiến hành trên chuột nhắt đực chủng ICR, cho uống chiết xuất Dioscorea bulbifera L. hoặc hoạt chất tinh khiết diosbulbin B liên tục trong 14 ngày [4]. Chỉ sau 2 tuần, cả nhóm dùng dịch chiết toàn phần lẫn nhóm dùng riêng diosbulbin B đều bị tổn thương gan qua phân tích sinh hóa và mô bệnh học, đi kèm tình trạng tăng bilirubin huyết thanh và sụt giảm lượng glutathione bảo vệ tại gan [4].

Hiểu lầm thường gặp về tính an toàn của củ thảo dược

Hiểu lầm phổ biến nhất của người tiêu dùng là đánh đồng khái niệm "thảo dược tự nhiên" với "uống bao nhiêu cũng bổ, uống càng lâu càng tốt". Dữ liệu từ loài Dioscorea hispida chỉ ra rằng việc một chiết xuất thảo dược hoàn toàn không gây hại ở một liều duy nhất rất cao (2.000 mg/kg) không đồng nghĩa với việc nó an toàn khi uống lặp lại hàng ngày trong thời gian dài [1]. Các nhà độc chất học luôn yêu cầu phải có nghiên cứu liều lặp lại để tìm ra độc tính tích lũy trên cơ quan đích [1].

Hiểu lầm thứ hai là tự ý đào, mua các loại củ rừng có màu vàng, vị đắng thuộc họ Củ nâu về sắc uống mà không kiểm định chính xác tên khoa học. Nếu dùng nhầm sang loài Dioscorea bulbifera L., chỉ cần uống liên tục từ 14 đến 30 ngày là độc chất đã đủ sức gây hoại tử tế bào gan và ống thận [2] [3] [4]. Ngay cả trong y học cổ truyền, để giảm bớt độc tính hại gan của Dioscorea bulbifera, các thầy thuốc không dùng đơn độc mà phải phối ngũ với các vị thuốc có tính kháng viêm, chống oxy hóa như Hoàng cầm và Hoàng bá để bảo vệ tế bào gan [3].

Tương tác thuốc nguy hiểm: Ai nên thận trọng?

Một rủi ro đặc biệt nghiêm trọng khác khi dùng các thảo dược thuộc chi Dioscorea là tương tác thuốc - thảo dược. Một nghiên cứu năm 2019 trên chuột nhắt đã kiểm tra sự tương tác giữa dung dịch Dioscorea bulbifera L. và doxorubicin (DOX) — một loại thuốc hóa trị ung thư phổ biến [5].

Các nhà nghiên cứu đã đo nồng độ thuốc trong máu, gan, thận, tim bằng phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ (HPLC-MS/MS) và đánh giá các chỉ số độc tính gồm ALT, AST (gan), creatinine, BUN (thận), CK, CK-MB (tim) cùng mô bệnh học [5]. Kết quả cho thấy khi dùng đồng thời doxorubicin và Dioscorea bulbifera L., tỷ lệ sống sót của chuột giảm đi đáng kể so với việc chỉ dùng thuốc đơn độc, chỉ dùng thảo dược đơn độc hoặc chỉ uống nước [5]. Việc uống kèm thảo dược này đã làm trầm trọng thêm độc tính trên tim và thận của thuốc doxorubicin (dù không làm tăng thêm độc tính gan so với dùng doxorubicin một mình) [5]. Nguyên nhân là do thảo dược đã ức chế protein P-gp ở gan và thận, làm chậm quá trình đào thải doxorubicin, khiến hóa chất trị ung thư bị ứ đọng lại trong cơ thể ở nồng độ gây độc [5].

Từ các bằng chứng trên, những nhóm đối tượng sau cần tuyệt đối thận trọng:

  • Người đang điều trị ung thư bằng hóa chất (đặc biệt là doxorubicin) hoặc đang dùng các thuốc tây y có khoảng điều trị hẹp cần đào thải qua hệ thống P-gp ở gan, thận [5].
  • Người có bệnh lý gan mật hoặc suy giảm chức năng thận từ trước, vì gan và thận là hai cơ quan đích chịu tổn thương trực tiếp từ độc tố của một số loài trong họ này [2].
  • Người có thói quen dùng thuốc nam, củ tươi truyền miệng không rõ nguồn gốc định danh thực vật học [6] [7].

Cách áp dụng thực tế để bảo vệ gan, thận

Để tận dụng lợi ích hỗ trợ hạ mỡ máu, giảm axit uric từ nần nghệ (Dioscorea collettii) mà không biến mình thành nạn nhân của ngộ độc gan thận, người dùng cần tuân thủ nguyên tắc an toàn dược liệu. Trước hết, chỉ sử dụng các sản phẩm đã được chuẩn hóa, xác định đúng loài Dioscorea collettii chứa hoạt chất saponin steroid [6], tuyệt đối tránh nhầm lẫn với loài Dioscorea bulbifera L. chứa độc tố furanoditerpenoid (diosbulbin B) [7] [4].

Thứ hai, cách chế biến và dung môi chiết xuất có ảnh hưởng lớn đến độc tính. Nghiên cứu cho thấy chiết xuất bằng nước của một số loài chi Dioscorea có độ an toàn cao hơn [1], trong khi các phân đoạn chiết bằng dung môi hữu cơ như methanol hoặc chloroform của loài có độc lại tập trung hàm lượng chất gây hại gan rất mạnh [8]. Do đó, người dân không nên tự ý ngâm rượu (dung môi cồn) các loại củ nần không rõ nguồn gốc để uống dài ngày.

Thứ ba, không tự ý uống kéo dài liên tục từ tháng này qua tháng khác. Các tổn thương thoái hóa mỡ ở gan, sụt giảm chất chống oxy hóa glutathione và hoại tử biểu mô ống thận trong nghiên cứu đều xuất hiện sau các đợt dùng liên tục từ 14, 28 đến 30 ngày [2] [3] [4]. Khi có bệnh nền về mỡ máu, gút, bướu cổ hay u cục, người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng thảo dược, không tự ý uống gộp chung với đơn thuốc tây đang điều trị [5] và nên kiểm tra định kỳ các chỉ số men gan (ALT, AST, ALP), bilirubin và chức năng thận (BUN, creatinine) [5] [1] [3].

Tóm lại, nần nghệ (Dioscorea collettii) là dược liệu có giá trị trong y học cổ truyền, nhưng ranh giới an toàn khi dùng dài ngày phụ thuộc chặt chẽ vào việc dùng đúng loài và đúng liều lượng [6] [1]. Việc dùng nhầm sang các loài cùng họ có độc như Dioscorea bulbifera L. hoặc uống kéo dài không kiểm soát có thể gây tổn thương gan, thận nghiêm trọng và gây tương tác thuốc nguy hiểm [5] [2] [7]. Hãy luôn hỏi ý kiến bác sĩ và theo dõi chức năng gan, thận định kỳ nếu bạn có ý định sử dụng nhóm thảo dược này lâu dài.