Nhiều người có thói quen uống thực phẩm bổ sung vào bất kỳ lúc nào thuận tiện trong ngày mà không chú ý đến mối liên hệ với bữa ăn. Đối với viên kẽm, câu hỏi thường gặp nhất là nên uống khi bụng đói để hấp thu tối đa hay phải uống ngay sau bữa ăn để bảo vệ đường tiêu hóa.

Về nguyên tắc sinh học, kẽm và các vi chất kim loại thường có tỷ lệ hấp thu tốt hơn khi dạ dày rỗng, tuy nhiên việc uống lúc bụng đói lại là nguyên nhân hàng đầu gây buồn nôn, cồn cào và đau dạ dày [1]. Do đó, thời điểm lý tưởng cho đa số mọi người là uống kẽm trong hoặc ngay sau bữa ăn nhẹ, nhằm cân bằng giữa mức độ dung nạp của đường ruột và hiệu quả bổ sung vi chất [1, 2].

Bối cảnh và thắc mắc phổ biến khi dùng viên kẽm

Kẽm là một vi chất dinh dưỡng thiết yếu tham gia vào hàng trăm enzym chuyển hóa, có vai trò sống còn đối với hệ miễn dịch, tốc độ hồi phục vết thương và sự phát triển của tế bào. Tình trạng thiếu kẽm trong khẩu phần ăn diễn ra khá phổ biến ở các nước đang phát triển, đặc biệt là giai đoạn ăn dặm ở trẻ nhỏ khi sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu cầu vi chất [2]. Do đó, việc tìm đến các dạng viên uống bổ sung kẽm ngày càng gia tăng ở cả trẻ em và người lớn.

Tuy nhiên, người sử dụng viên kẽm thường xuyên đối mặt với sự phân vân lớn về mặt thời gian sử dụng. Một số hướng dẫn khuyên nên uống trước bữa ăn để tránh sự cản trở của thức ăn, nhưng thực tế nhiều người gặp phải cảm giác khó chịu tức thì ở vùng thượng vị chỉ sau vài phút nuốt viên thuốc. Hiểu rõ đường đi của kẽm trong cơ thể và phản ứng của dạ dày là chìa khóa để lựa chọn thời điểm dùng viên kẽm một cách an toàn và thoải mái nhất.

Cơ chế hấp thu của kẽm trong hệ tiêu hóa

Để hiểu vì sao thời điểm uống lại quyết định cảm giác ở bụng, chúng ta cần xem xét cơ chế tiếp nhận vi chất này tại ống tiêu hóa. Các nghiên cứu trên mô hình sinh học cho thấy dạ dày hoàn toàn không phải là nơi diễn ra sự hấp thu kẽm đáng kể [3]. Sau khi được nuốt vào, hợp chất kẽm chỉ lưu lại dạ dày trong thời gian ngắn trước khi di chuyển nhanh chóng xuống các đoạn ruột non [3].

Các vị trí đảm nhận vai trò hấp thu kẽm nhanh và chủ yếu trong ống tiêu hóa là tá tràng và hồi tràng [3]. Quá trình hấp thu diễn ra rất mạnh mẽ ngay trong giờ đầu tiên sau khi kẽm tiến vào ruột và có thể duy trì liên tục trong suốt 8 giờ đến 48 giờ tiếp theo [3]. Tại đoạn hỗng tràng, sự hấp thu diễn ra chậm rãi và đều đặn hơn [3]. Trong khi đó, các khu vực như dạ dày, manh tràng hay ruột già hầu như không tham gia vào quá trình hấp thu kẽm [3]. Thời gian vận chuyển của kẽm qua ruột non rất nhanh, lượng lớn kẽm đi qua đường ruột chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ [3].

Mặc dù dạ dày không hấp thu kẽm, niêm mạc dạ dày lại là nơi hứng chịu trực tiếp các phản ứng kích ứng tại chỗ khi các hợp chất kẽm giải phóng ở nồng độ cao [1]. Hiện tượng kích thích niêm mạc đường tiêu hóa trên giải thích vì sao phản xạ nôn mửa hoặc co thắt cơ trơn dạ dày dễ bùng phát nếu người dùng uống kẽm khi trong dạ dày chưa có thức ăn đệm lót [1].

Nghiên cứu nói gì về hấp thu kẽm lúc đói và sau ăn

Nghiên cứu kinh điển công bố năm 1985 đã đi sâu phân tích cơ chế hấp thu kẽm của cơ thể người khi kết hợp với nước lọc lúc đói và khi đi kèm bữa ăn [4]. Nghiên cứu này sử dụng đồng vị kẽm 65Zn kết hợp kỹ thuật đếm toàn thân sau 2 tuần theo dõi để đánh giá chính xác lượng vi chất đi vào vòng tuần hoàn [4]. Kết quả cho thấy khi uống kẽm hòa tan cùng nước trong trạng thái đói, tỷ lệ kẽm được hấp thu qua thành ruột đạt mức cao, dao động từ 58% đến 59% [4].

Tuy nhiên, nghiên cứu năm 1985 cũng chỉ rõ một yếu tố rủi ro lớn khi uống vi chất lúc bụng rỗng: sự cạnh tranh gay gắt giữa các kim loại có cùng kênh hấp thu [4]. Khi tỷ lệ phân tử sắt dạng ferrous đi kèm axit ascorbic so với kẽm ở mức 1:1 hoặc 2,5:1, khả năng hấp thu kẽm khi đói vẫn giữ vững ở mức 58% - 59% [4]. Nhưng khi tỷ lệ sắt so với kẽm tăng vọt lên mức 25:1, khả năng hấp thu kẽm từ dung dịch nước lúc đói lập tức tụt dốc nghiêm trọng, chỉ còn lại 34% [4]. Hiện tượng này khẳng định rằng nếu dùng viên uống chứa nhiều khoáng chất khi đói, sự dư thừa của sắt sẽ chèn ép mạnh mẽ và làm giảm khả năng tiếp nhận kẽm của ruột non [4].

Trái lại, bức tranh hoàn toàn thay đổi khi kẽm và sắt được đưa vào cơ thể cùng với thức ăn. Cũng theo nghiên cứu năm 1985, khi các mức tỷ lệ sắt trên kẽm được dùng chung trong bữa ăn, hiện tượng ức chế hoàn toàn biến mất, tỷ lệ hấp thu kẽm duy trì ổn định lần lượt là 25%, 23% và 22% [4]. Mặc dù tỷ lệ hấp thu tổng thể trong bữa ăn có phần thấp hơn so với khi uống với nước lọc tinh khiết lúc đói, nhưng thức ăn đóng vai trò như một môi trường đệm ổn định, giúp cơ thể hấp thu kẽm một cách an toàn mà không bị lấn át bởi nồng độ cao của sắt [1, 2]. Ngoài ra, việc bổ sung phối tử kẽm như histidine vào dung dịch nước cũng giúp giảm bớt tác động ức chế của sắt liều cao, nâng tỷ lệ hấp thu kẽm lên mức 47% [4].

Nguy cơ kích ứng tiêu hóa và triệu chứng không mong muốn

Rào cản lớn nhất khiến nhiều người không thể duy trì thói quen uống kẽm lúc đói là tác dụng phụ trên hệ tiêu hóa [1]. Tình trạng khó chịu ở đường tiêu hóa thường bùng phát mạnh mẽ nhất ở những cá nhân tiêu thụ lượng lớn vi chất bổ sung khi dạ dày hoàn toàn trống rỗng [5]. Bằng chứng lâm sàng đã ghi nhận nhiều trường hợp gặp biến cố tiêu hóa nghiêm trọng khi nạp lượng kẽm quá mức cho phép [1].

Trong một thử nghiệm lâm sàng được nhắc đến trong y văn năm 2010 do hai nhà khoa học Samman và Roberts thực hiện, có tới 26 trên tổng số 47 tình nguyện viên khỏe mạnh xuất hiện các triệu chứng bao gồm co thắt bụng, nôn mửa và buồn nôn sau khi uống viên kẽm sulfat chứa 150 mg kẽm nguyên tố liên tục trong 6 tuần [1]. Một báo cáo ca lâm sàng khác ghi nhận một người đàn ông 39 tuổi bị buồn nôn dữ dội, nôn mửa và đau quặn bụng suốt 6 giờ sau khi nuốt phải 150 g kem dưỡng chứa 10% kẽm oxit [1]. Nội soi cho thấy người bệnh bị tổn thương ăn mòn dạ dày tá tràng, các triệu chứng kéo dài ròng rã 3 ngày và tổn thương ăn mòn chỉ thoái triển dần vào ngày thứ 5 nhập viện mà không để lại sẹo co rút [1].

Không chỉ ở người lớn, tình trạng buồn nôn và nôn trớ do kẽm cũng được ghi nhận rõ nét ở trẻ em. Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp công bố năm 2022 trên nhóm trẻ từ 0 đến 3 tuổi cho thấy có 4 trên 13 nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ trẻ bị nôn gia tăng đáng kể sau khi uống kẽm [6]. Các liều bổ sung đơn lẻ trong những nghiên cứu này dao động từ 10 đến 20 mg/ngày đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi và từ 20 đến 30 mg/ngày đối với trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên [6]. Trong đó, có 3 nghiên cứu can thiệp ngắn hạn kéo dài từ 10 đến 14 ngày trên trẻ em bị tiêu chảy cấp hoặc viêm phổi, và 1 nghiên cứu kéo dài 4 tháng nhằm mục tiêu phòng ngừa tiêu chảy [6].

Phân tích gộp năm 2022 cũng nêu rõ rằng hiện tượng nôn trớ sau can thiệp xảy ra phổ biến ở trẻ nhỏ [6]. Có 3 nghiên cứu ghi nhận tần suất nôn trớ tăng lên ở trẻ bị tiêu chảy cấp hoặc viêm phổi dùng liều kẽm 10 đến 20 mg/ngày cho trẻ dưới 12 tháng hoặc 20 đến 30 mg/ngày cho trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên trong 10 đến 14 ngày [6]. Một nghiên cứu khác cho trẻ từ 2 đến 11 tháng tuổi dùng liều kẽm 21 mg mỗi tuần trong 12 tháng để phòng tiêu chảy và viêm phổi ghi nhận số ca rút khỏi nhóm can thiệp cao hơn hẳn nhóm giả dược (103 trẻ so với 44 trẻ), trong đó ác cảm với mùi vị dẫn đến nôn trớ được xem là nguyên nhân tiềm ẩn [6].

Đặc biệt, nghiên cứu của nhóm tác giả Chang được trích dẫn trong báo cáo năm 2022 đã chứng minh rằng khi kẽm được uống cùng lúc với sắt, tần suất nôn mửa ở trẻ tăng lên đáng kể so với nhóm dùng giả dược, nhóm chỉ uống kẽm đơn thuần hoặc nhóm uống kẽm và sắt tách rời thời điểm [6].

Những hiểu lầm phổ biến khi bổ sung kẽm

Một hiểu lầm rất phổ biến là quan niệm cho rằng uống kẽm khi đói luôn luôn tốt hơn vì tối ưu hóa được sự hấp thu tuyệt đối. Dù tỷ lệ hấp thu từ nước khi đói đạt khoảng 58% - 59%, nhưng nếu viên uống vô tình đi kèm sắt hoặc gặp phải nồng độ sắt tự do cao trong đường tiêu hóa, sự hấp thu kẽm có thể tụt mạnh xuống chỉ còn 34% [4]. Ngược lại, khi có thức ăn, quá trình hấp thu duy trì ổn định hơn và triệt tiêu được sự ức chế của sắt [1, 2].

Hiểu lầm thứ hai liên quan đến loại muối kẽm. Nhiều người cho rằng dạng hợp chất kẽm nào cũng cho hiệu quả và khả năng dung nạp như nhau. Báo cáo năm 1998 về vi chất cho trẻ em chỉ ra rằng các dạng muối kẽm có độ hòa tan rất khác nhau; trong đó kẽm cacbonat và kẽm oxit là những dạng không tan, dẫn đến khả năng hấp thu vào cơ thể rất kém [2]. Thêm vào đó, một số muối kẽm có mùi vị rất khó chịu và là nguyên nhân kích hoạt phản ứng buồn nôn khi dùng ở liều cao [2]. Các dạng kẽm sulfat, kẽm oxit và kẽm gluconat đều có khả năng gây tác động kích ứng tương tự lên hệ tiêu hóa [1].

Hiểu lầm thứ ba là cho rằng liều lượng kẽm càng cao thì hiệu quả miễn dịch càng mạnh. Việc lạm dụng bổ sung kẽm liều cao trong thời gian kéo dài có thể dẫn đến nguy cơ nghiêm trọng là thiếu hụt đồng trong cơ thể [1]. Cơ chế này bắt nguồn từ sự cạnh tranh hấp thu giữa kẽm và đồng tại các tế bào biểu mô ruột thông qua trung gian metallothionein (MT) [1]. Khi hàm lượng kẽm trong chế độ ăn quá cao, cơ thể sẽ tăng cường biểu hiện MT [1]. Do MT có ái lực gắn kết với đồng mạnh hơn kẽm, các ion đồng tự do sẽ bị MT giữ chặt và sau đó bị đào thải ra ngoài theo phân [1]. Khi kẽm được bổ sung vượt trội quá mức so với đồng, sự hấp thu đồng sẽ bị đình trệ, dẫn đến các biến chứng như hạ đồng huyết, rối loạn huy động sắt, thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính và suy giảm nồng độ men superoxide dismutase (SOD) [1].

Ai nên thận trọng khi uống viên kẽm?

Dựa trên các dữ liệu về tác dụng phụ đường tiêu hóa và tương tác khoáng chất, một số nhóm đối tượng cần đặc biệt cẩn trọng khi sử dụng viên bổ sung kẽm:

Thứ nhất là người có tiền sử viêm loét dạ dày, trào ngược hoặc dạ dày nhạy cảm. Do các muối kẽm có thể gây kích ứng niêm mạc, đau quặn bụng và buồn nôn dữ dội khi tiếp xúc trực tiếp [1], nhóm đối tượng này tuyệt đối không nên uống kẽm khi bụng rỗng.

Thứ hai là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Hệ tiêu hóa non nớt của trẻ rất dễ phản ứng với kẽm bằng triệu chứng nôn mửa hoặc trớ sau uống, nhất là khi dùng liều cao từ 10 đến 30 mg mỗi ngày hoặc khi phải tiếp nhận các chế phẩm kẽm có mùi vị khó chịu [4, 6].

Thứ ba là người đang điều trị thiếu máu thiếu sắt hoặc phải uống đồng thời sắt và kẽm. Việc bổ sung sắt liều cao có thể gây ức chế hấp thu kẽm nếu uống lúc đói [1, 2], đồng thời việc uống kẽm cùng lúc với sắt làm tăng tần suất nôn mửa ở trẻ nhỏ so với việc uống tách rời [6]. Đối với sắt đường uống, tỷ lệ hấp thu khi đói đạt từ 5% đến 28%, nhưng giảm xuống còn 2% đến 13% khi dùng chung với thức ăn [7]. Nhiều chế phẩm đa vi chất chứa sắt kết hợp kẽm thường gây tương tác cản trở hấp thu sắt [7]. Do đó, người dùng cần sự hướng dẫn kỹ lưỡng để phân chia lịch uống hai vi chất này.

Thứ tư là những người tự ý bổ sung kẽm liều cao trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Nguy cơ cạnh tranh hấp thu dẫn đến thiếu hụt đồng thứ phát là mối đe dọa trực tiếp cho hệ tạo máu và chức năng miễn dịch nếu không được theo dõi y tế cẩn thận [1].

Hướng dẫn áp dụng thực tế: Thời điểm và cách kết hợp

Để cơ thể dung nạp kẽm tốt nhất mà không gây xáo trộn cho dạ dày, người dùng nên áp dụng những nguyên tắc thực hành sau:

Về thời điểm trong ngày, nếu bạn có đường tiêu hóa khỏe mạnh và sử dụng liều kẽm thấp đơn lẻ, bạn có thể uống cùng một ly nước lọc giữa các bữa ăn. Tuy nhiên, nếu bạn từng có cảm giác buồn nôn, cồn cào hoặc dùng các dạng muối kẽm dễ gây kích ứng, hãy chuyển thời điểm uống kẽm vào giữa bữa ăn hoặc ngay sau khi ăn một bữa nhẹ [1, 2, 5]. Thức ăn sẽ giảm thiểu tối đa hiện tượng kích ứng niêm mạc tại chỗ mà vẫn bảo tồn được sự hấp thu ổn định [1, 2].

Về việc kết hợp với khoáng chất khác, đặc biệt là sắt: hãy tránh uống viên sắt và viên kẽm cùng một thời điểm khi bụng đói [1, 6]. Nếu đang trong phác đồ điều trị thiếu máu bằng sắt, người bệnh có thể tham khảo việc uống sắt cách quãng (1 đến 3 lần mỗi tuần vào các ngày không liên tiếp), một giải pháp đã được chứng minh là có hiệu quả tương đương uống hàng ngày nhưng ít tác dụng phụ hơn và giúp giảm liều lượng sắt chưa hấp thu trong ruột [7]. Nếu phải dùng cả hai loại vi chất, nên uống tách rời kẽm và sắt vào các buổi khác nhau trong ngày để tránh ức chế hấp thu và giảm thiểu nguy cơ nôn trớ [1, 6].

Về dạng bào chế, nên ưu tiên các dạng kẽm dễ dung nạp và hòa tan tốt, tránh dùng các dạng muối không tan như kẽm oxit hoặc kẽm cacbonat vốn có sinh khả dụng rất thấp [2]. Đối với trẻ nhỏ, cần lựa chọn chế phẩm có hương vị dễ tiếp nhận để hạn chế tình trạng ác cảm mùi vị gây nôn trớ [4, 6].

Kết luận

Việc uống viên kẽm lúc đói có thể đem lại tỷ lệ hấp thu cao trong điều kiện lý tưởng, nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ lớn gây buồn nôn, co thắt dạ dày và bị ức chế hấp thu nếu trong đường ruột có nồng độ sắt cao [1, 5]. Uống kẽm trong hoặc ngay sau bữa ăn nhẹ là giải pháp cân bằng và thông minh nhất để bảo vệ niêm mạc dạ dày mà vẫn cung cấp đủ vi chất cho cơ thể [1, 2]. Người tiêu dùng không nên tự ý dùng kẽm liều cao kéo dài và cần tham khảo ý kiến nhân viên y tế nếu có bệnh lý nền hoặc đang phối hợp nhiều loại thuốc.