Sức Khỏe Dinh Dưỡng
Cây tử thảo

Ảnh: Ảnh từ tracuuduoclieu.vn (Viện Dược liệu) — đã đổi kích thước và chuyển WebP

Dược liệuBoraginaceae

Cây tử thảo

Lithospermum erythrorhizon Sieb. & Zucc.
Tên gọi khác: Cỏ ngọc, Tử thảo
Tên tiếng Anh: Redroot Lithospermum, Red Gromwell, Purple Gromwell, Red-Root Gromwell

Chữa viêm da, bỏng hay ung thư nang lông, dùng để phòng và trị các bệnh đậu mùa, sởi, thủy đậu, và nổi mẩn lở ngứa

Cách sử dụng trong đời sống

  • Tử thảo được dùng để phòng và trị các bệnh đậu mùa, sởi, thủy đậu, và nổi mẩn lở ngứa, với liều 8 – 12g rễ khô sắc uống. Chữa viêm da, bỏng hay ung thư nang lông, dùng tử thảo 30g sắc uống và bôi rửa ngoài. Chữa sốt, giải nhiệt, làm mát máu, dùng bài thuốc gồm tử thảo, hoàng liên, đại thanh diệp, mẫu đơn bì. Rễ tử thảo được dùng riêng hoặc phối hợp với cam thảo (để sống) và mộc hương, sắc uống để phòng bệnh sởi. Có thể dự phòng bệnh sởi bằng cách uống rễ tử thảo trong 3-5 ngày liền. Nếu có mắc sởi thì bệnh cũng nhẹ. Cách chế biến và sử dụng rễ tử thảo như sau : Rễ phơi khô, tán nhỏ, rây lấy bột mịn. Trẻ em, từ 1 tuổi trở xuống, mỗi lần uống 2g; 2 – 4 tuổi, 4g; 5 – 7 tuổi, 6g; 8-12 tuổi, 8g. Ngày dùng 3 lần. Hoà bột tử thảo với nước, đun sôi trong nửa giờ. Thêm đường uống cho đỡ đắng. Trong y học cổ truyền Trung Quốc, rễ tử thảo là thuốc chống viêm và hạ sốt trong điều trị sởi, eczema, và bỏng do nhiệt. Lá được dùng làm thuốc lợi tiểu. Y học cổ truyền Ấn Độ lại dùng rễ tử thảo làm thuốc lọc máu. Nước sắc rễ và nhánh cây dùng dưới dạng sirô để điều trị các bệnh phát ban như đậu mùa, sởi, và ngứa. Hạt có tác dụng lợi tiểu và làm tan sỏi, chữa bệnh gút và bệnh bàng quang. Nước hãm lá được dùng theo kinh nghiệm dân gian ở Tây Ban Nha làm thuốc an thần. Bài thuốc có tử thảo Chữa bệnh ôn nhiệt, sốt cao, phát ban: Rễ tử thảo 8 – 20g; huyền sâm, thiên hoa phấn, mạch môn, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang. Chữa vảy nến: Tử thảo 12g; hoè hoa (sống), sinh địa, thổ phục linh, thạch cao…

Bài viết về Cây tử thảo (7)