Cây đại bi (tên khoa học Blumea balsamifera) là loại cây quen thuộc trong dân gian, thường được gọi là từ bi, đại ngải hay băng phiến ngải [1]. Dân gian hay dùng lá và cành cây nấu nước xông cảm mạo, ngâm rượu xoa bóp giảm đau nhức xương khớp. Nhiều người truyền tai nhau uống nước sắc lá đại bi để thanh lọc cơ thể, trị ho hoặc hỗ trợ giảm cân.
Tuy nhiên, thói quen cứ thấy thảo dược tự nhiên là đun uống trị bệnh tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường. Không phải ai cũng dùng được loại cây này. Ba nhóm đối tượng cần đặc biệt tránh tự ý sử dụng cây đại bi chữa bệnh là phụ nữ mang thai, người bị suy giảm chức năng gan thận nặng và người có cơ địa dị ứng tinh dầu hoặc đang mắc bệnh lý nền chưa rõ căn nguyên.
Cơ chế sinh học và dược tính của cây đại bi
Các phân tích hóa thực vật cho thấy cây đại bi chứa lượng tinh dầu bay hơi rất phong phú [1]. Nghiên cứu tách chiết tinh dầu đại bi bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước xác định được 42 hợp chất hóa học khác nhau [1]. Các thành phần được nhận diện này chiếm tới 97,65% tổng diện tích pic sắc ký [1].
Thành phần chủ yếu trong tinh dầu đại bi là các sesquiterpenoid [1]. Tinh dầu đại bi thể hiện hoạt tính gây độc tế bào mạnh khi thử nghiệm trên ấu trùng tôm [1]. Ngoài ra, tinh dầu này còn có tác dụng kháng lại 8 loại nấm gây bệnh thực vật và có hoạt tính thu dọn gốc tự do, chống oxy hóa được đo bằng phương pháp DPPH [1].
Bên cạnh tinh dầu, cao chiết đại bi còn tác động lên quá trình chuyển hóa tế bào [2]. Nghiên cứu trên dòng tế bào tiền mỡ và tế bào mỡ 3T3-L1 cho thấy dịch chiết đại bi ức chế sự tích tụ mỡ mà không ảnh hưởng tới sức sống của tế bào [2]. Dịch chiết làm giảm hoạt tính enzym glycerol-3-phosphate dehydrogenase (GPDH) và làm giảm biểu hiện của các yếu tố phiên mã tạo mỡ then chốt như PPAR-gamma, C/EBP và leptin [2]. Đồng thời, nó kích thích tăng biểu hiện protein adiponectin [2]. Các dược tính mạnh mẽ này chứng minh đại bi tác động sâu vào sinh hóa tế bào, không đơn thuần chỉ là "cây cỏ vô hại".
Bằng chứng khoa học nói gì về đại bi?
Hiện nay, các nghiên cứu chuyên sâu về cây đại bi hầu như mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, trên tế bào nuôi cấy hoặc sinh vật nhỏ [2, 5].
Một nghiên cứu công bố năm 2014 sử dụng công nghệ sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) kết hợp phương pháp chuẩn hóa diện tích pic để định danh thành phần tinh dầu lá đại bi [1]. Kết quả ghi nhận 42 hợp chất sesquiterpenoid chiếm 97,65% diện tích pic [1]. Thử nghiệm hoạt tính sinh học cho thấy tinh dầu có độc tính tế bào đối với ấu trùng tôm, đồng thời có khả năng ức chế nấm gây bệnh trên cây trồng và chống oxy hóa khi so sánh đối chứng với Trolox [1]. Giới hạn lớn nhất của nghiên cứu này là hoàn toàn thực hiện in vitro và trên sinh vật thử nghiệm, chưa từng đánh giá độ an toàn hay độc tính trường diễn trên cơ thể người [1].
Một nghiên cứu khác vào năm 2009 tìm hiểu tác dụng chống béo phì của cao chiết đại bi trên mô hình tế bào tiền mỡ 3T3-L1 [2]. Kết quả ghi nhận dịch chiết có khả năng ức chế biệt hóa mỡ và làm suy giảm các yếu tố phiên mã tạo mỡ, tăng cường adiponectin [2]. Nhóm tác giả nhận định dịch chiết có tiềm năng kháng xơ vữa, chống viêm và chống đái tháo đường [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ giới hạn trên đĩa nuôi cấy tế bào biệt lập, không phản ánh chuyển hóa phức tạp trong cơ thể sống hoàn chỉnh [2].
Năm 2016, nghiên cứu về đặc điểm hình thái của cây đại bi phân tích 19 tính trạng sinh học bằng hồi quy đa biến từng bước và phân tích nhân tố [3]. Kết quả cho thấy hệ số biến thiên giữa các quần thể là rất lớn [3]. Trọng lượng lá toàn cây chịu ảnh hưởng lớn từ tỷ lệ dài/rộng của lá, đường kính thân, số lượng cành nhánh và trọng lượng lá ở các giai đoạn [3]. Điều này chỉ ra thành phần dược chất giữa các cây đại bi mọc ở điều kiện tự nhiên khác nhau có thể chênh lệch rất lớn [3].
Nhóm 1: Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú
Phụ nữ mang thai là đối tượng bắt buộc phải tránh sử dụng cây đại bi [4]. Mặc dù y văn chưa có thử nghiệm lâm sàng chuyên biệt về đại bi trên thai phụ, các đánh giá tổng quan về liệu pháp thảo dược trong sản khoa đã chỉ rõ nhiều loại cây chứa lượng tinh dầu đậm đặc thuộc diện cấm dùng [4].
Cây đại bi chứa hàm lượng tinh dầu bay hơi rất cao, chủ yếu là các sesquiterpenoid có hoạt tính sinh học mạnh [1]. Thảo dược chứa tinh dầu và các chất đắng thường nằm trong nhóm nguy cơ gây kích thích co bóp cơ trơn tử cung (hiệu ứng trục xuất thai), tăng nguy cơ sảy thai hoặc sinh non [4]. Ngoài ra, việc dùng các chất có độc tính tế bào cao trong thai kỳ tiềm ẩn nguy cơ gây ngộ độc phôi thai hoặc dị tật bẩm sinh [2, 7].
Đối với phụ nữ cho con bú, hiện không có bất kỳ dữ liệu nào chứng minh hoạt chất từ đại bi không bài tiết qua sữa mẹ. Các hợp chất sesquiterpenoid tan trong dầu có khả năng đi qua hàng rào sữa, gây ảnh hưởng tiêu hóa hoặc ngộ độc cho trẻ sơ sinh. Do đó, người mẹ đang mang thai hoặc cho con bú tuyệt đối không dùng lá đại bi để uống hay xông tắm dài ngày.
Nhóm 2: Người bị suy giảm chức năng gan, thận nặng
Những người có tiền sử viêm gan, xơ gan, men gan cao hoặc suy thận mạn tính cần kiêng hoàn toàn cây đại bi. Mọi hoạt chất dược lý khi vào cơ thể đều phải chuyển hóa qua gan và đào thải qua thận.
Nghiên cứu khoa học xác nhận tinh dầu đại bi có hoạt tính gây độc tế bào rõ rệt trên ấu trùng tôm [1]. Với người khỏe mạnh, gan và thận có thể chuyển hóa và lọc các chất này ở liều lượng thấp. Nhưng ở người suy gan thận, khả năng liên hợp và thanh thải suy giảm nghiêm trọng. Độc tính tế bào của các sesquiterpenoid có thể tích tụ, làm hoại tử tế bào gan cấp tính hoặc gây quá tải lọc cầu thận [1].
Hiện tại, chưa có bất kỳ nghiên cứu lâm sàng nào xác định nồng độ ngưỡng an toàn của chiết xuất đại bi đối với người bệnh suy giảm chức năng gan thận. Việc tự ý uống nước sắc đặc từ lá cây này có thể biến một tổn thương gan thận nhẹ thành suy đa tạng nguy kịch.
Nhóm 3: Người có cơ địa dị ứng tinh dầu hoặc mắc bệnh chuyển hóa nặng
Cây đại bi thuộc họ Cúc (Asteraceae), là loài thực vật chứa hàm lượng tinh dầu thơm nồng với 42 hợp chất bay hơi [1]. Những người có cơ địa dị ứng với các loại thảo mộc họ Cúc hoặc mẫn cảm với tinh dầu rất dễ bị viêm da tiếp xúc, phát ban đỏ, sưng ngứa hoặc phù nề đường thở khi tiếp xúc trực tiếp hay uống nước lá đại bi.
Hơn nữa, các nghiên cứu chỉ ra dịch chiết đại bi can thiệp vào các con đường chuyển hóa mỡ thông qua PPAR-gamma, C/EBP và adiponectin [2]. Người đang mắc các bệnh lý rối loạn chuyển hóa phức tạp, đái tháo đường đang dùng thuốc kiểm soát đường huyết không nên tự ý dùng đại bi. Hoạt chất trong cây có thể tương tác với thuốc điều trị, gây hạ đường huyết đột ngột hoặc biến động nồng độ lipid máu khó lường [2].
Hiểu lầm thường gặp về cây đại bi
Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "cây mọc ngoài vườn, hái nấu uống thanh nhiệt nên không có tác dụng phụ". Thực tế, tinh dầu đại bi có hoạt tính ức chế sinh vật và gây độc tế bào rất mạnh [1]. Thảo mộc tự nhiên vẫn chứa độc chất nếu sử dụng sai liều hoặc dùng trên cơ thể suy yếu.
Hiểu lầm thứ hai là dùng cây đại bi để thay thế thuốc điều trị mỡ máu hoặc béo phì. Việc cao chiết đại bi ức chế biệt hóa tế bào mỡ 3T3-L1 chỉ là kết quả bước đầu trong phòng thí nghiệm [2]. Không thể đánh đồng kết quả trên đĩa petri nuôi cấy tế bào với tác dụng giảm cân thực tế trên cơ thể con người. Tự ý bỏ phác đồ điều trị của bác sĩ để uống nước đại bi là sai lầm nguy hại.
Nhiều người cũng nghĩ rằng nấu nước tắm hoặc xông hơi lá đại bi thì không ngấm vào cơ thể nên an toàn cho thai phụ. Thực tế, tinh dầu bay hơi qua đường hô hấp và thẩm thấu qua niêm mạc rất nhanh, vẫn có thể tác động đến tuần hoàn máu và tử cung [4].
Áp dụng thực tế an toàn với cây đại bi
Đối với người khỏe mạnh bình thường, việc sử dụng đại bi chỉ nên giới hạn ở mức độ hỗ trợ ngoài da và xông cảm mạo theo kinh nghiệm dân gian. Không nên nấu nước uống thay trà hàng ngày.
Nếu dùng để xông hơi giải cảm, chỉ hái một nắm lá nhỏ tươi, rửa sạch, đun sôi cùng các loại lá thơm khác như sả, bưởi và xông trong phòng kín từ 5-10 phút. Ngưng ngay nếu cảm thấy hoa mắt, ngực tức hoặc khó thở.
Nếu dùng ngâm rượu xoa bóp ngoài da trị nhức mỏi khớp, cần thử bôi một lượng nhỏ lên vùng da cổ tay trước để kiểm tra phản ứng dị ứng. Không bôi rượu đại bi lên vết thương hở, vùng da trầy xước hoặc niêm mạc mắt, miệng.
Không có liều uống chuẩn an toàn được phê duyệt cho người. Khi có bất kỳ bệnh lý mãn tính nào hoặc đang dùng thuốc tây, phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền trước khi sử dụng bất kỳ bài thuốc nào từ cây đại bi.
Cây đại bi là nguồn thảo dược tự nhiên có nhiều hoạt tính sinh học tiềm năng như chống oxy hóa, kháng khuẩn và tác động lên chuyển hóa tế bào [2, 5]. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện tại vẫn còn rất hạn chế và chỉ nằm ở mức độ phòng thí nghiệm [2, 5]. Người dân không nên coi đây là thần dược trị bách bệnh, đặc biệt ba nhóm người nguy cơ cao kể trên phải tuyệt đối thận trọng để bảo vệ tính mạng và sức khỏe.

