Cây seo gà (còn gọi là phượng vĩ thảo, tên khoa học Pteris multifida) là loại cây quen thuộc mọc hoang ở bờ tường, miệng giếng hay ven bụi rậm [1]. Nhiều người thường tự hái hoặc mua dược liệu này về sắc nước uống thanh nhiệt, trị kiết lỵ, mẩn ngứa theo kinh nghiệm dân gian. Dù vậy, việc tùy tiện dùng thảo dược khi chưa rõ độc tính và chống chỉ định tiềm ẩn không ít rủi ro cho sức khỏe.
Các nghiên cứu khoa học hiện nay chưa có dữ liệu lâm sàng chứng minh tính an toàn của cây seo gà trên cơ thể người, đặc biệt là nhóm phụ nữ mang thai, người tỳ vị hư hàn và trẻ nhỏ. Hơn nữa, đặc tính sinh học tích tụ kim loại nặng cùng độc tính tiềm ẩn khiến loại cây này trở thành mối nguy hại nếu dùng bừa bãi.
Bối cảnh và thắc mắc thường gặp về cây seo gà
Theo y học cổ truyền Trung Quốc, toàn bộ cây seo gà từng được sử dụng để hỗ trợ điều trị vàng da, kiết lỵ, đại tiện ra máu, chàm da và nhiều bệnh lý khác [1]. Trong dân gian, nước sắc từ cây seo gà cũng được một số nơi truyền tai nhau nhằm làm giảm các triệu chứng phì đại tuyến tiền liệt lành tính [2]. Chính những lời đồn truyền miệng này khiến nhiều người coi seo gà như một bài thuốc lành tính từ thiên nhiên.
Tuy nhiên, người tiêu dùng thường bỏ qua câu hỏi: Dược liệu này có thực sự an toàn cho mọi lứa tuổi? Nhóm đối tượng nào cần tránh xa cây seo gà để không gặp phải tác dụng phụ nguy hiểm? Các dữ liệu sinh thái học và dược lý học hiện đại đã chỉ ra những khía cạnh rất đáng lưu tâm về loài cây này.
Nguy cơ nhiễm độc thạch tín từ đặc tính sinh học của cây seo gà
Trước khi xét đến dược tính, người dùng cần biết cây seo gà (Pteris multifida) thuộc nhóm thực vật có khả năng siêu tích lũy thạch tín (asen - As) từ môi trường sống [3], [4]. Thạch tín là một kim loại nặng cực độc đối với cơ thể người, gây tổn hại gan, thận, hệ thần kinh và làm tăng nguy cơ ung thư nếu tích tụ lâu dài.
Một nghiên cứu thực địa công bố năm 2007 tại 7 địa điểm ở miền nam Trung Quốc đã tiến hành thu thập và phân tích 112 mẫu dương xỉ cùng mẫu đất [5]. Kết quả nghiên cứu xác định nồng độ asen tích tụ trong lá của cây seo gà (Pteris multifida) dao động từ 11,2 đến 341 mg/kg [5]. Nghiên cứu cũng ghi nhận hàm lượng sắt rất cao trong lá cây seo gà, đạt mức 375 đến 1.856 mg/kg [5]. Mặc dù tích lũy asen thấp hơn loài Pteris vittata, seo gà vẫn là nguồn giữ kim loại nặng đáng kể trong tự nhiên [5].
Cũng trong năm 2007, một khảo sát thực địa tại mỏ asen bỏ hoang ở Quảng Tây (Trung Quốc) kết hợp thử nghiệm trồng 11 loài thuộc chi Pteris trong nhà kính suốt 12 tuần trên các loại đất bổ sung 0, 50 và 200 mg As/kg [4]. Kết quả xác nhận Pteris multifida cùng với biến thể Pteris multifida f. serrulata là những loài có khả năng siêu tích tụ asen có tính cấu tạo di truyền trong quần thể [4].
Một nghiên cứu khác công bố năm 2021 tiếp tục đánh giá khả năng tích lũy và giải phóng asen của ba loài dương xỉ gồm Pteris multifida, Pteris cretica và Pteris vittata dưới điều kiện nhiệt độ hạ thấp từ 25 độ C xuống 5 độ C trong 15 ngày với lượng bổ sung 5 mg/L As [3]. Kết quả cho thấy khi nhiệt độ giảm, Pteris multifida vẫn duy trì khả năng tích lũy asen cho đến mốc 10 độ C mà không bị hoại tử như P. vittata [3]. Phân bố asen tập trung chủ yếu ở phần lá, đồng thời cây seo gà còn lưu trữ một phần asen tại rễ [3].
Các phát hiện này chứng minh cây seo gà rất phù hợp để xử lý nguồn nước nhiễm asen ở vùng ôn đới [3]. Nhưng ngược lại, trong bối cảnh dùng làm thuốc uống, việc hái cây seo gà mọc hoang ở vùng đất hoặc nguồn nước ô nhiễm đem sắc uống có thể biến ấm thuốc thành nguồn đưa thạch tín trực tiếp vào cơ thể.
3 nhóm người cần đặc biệt thận trọng và tránh tự ý sử dụng
Từ các đặc tính sinh học và khoảng trống nghiên cứu y khoa, 3 nhóm đối tượng sau đây tuyệt đối không nên tự ý dùng cây seo gà:
1. Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú
Chưa có bất kỳ nghiên cứu khoa học nào chứng minh tính an toàn của cây seo gà trên phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ đang cho con bú. Dữ liệu thực nghiệm dược lý hiện chỉ giới hạn trên chuột đực và chuột cống [2], [6]. Kim loại nặng như asen mà loài cây này dễ hấp thụ có thể đi qua hàng rào nhau thai hoặc bài tiết qua sữa mẹ, gây dị tật thai nhi, sảy thai hoặc nhiễm độc thần kinh nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh.
Bên cạnh đó, các hợp chất flavonoid chiết xuất từ cây có thể tác động đến các yếu tố tăng trưởng nội mạch và tế bào [2], tiềm ẩn nguy cơ gây rối loạn tuần hoàn nhau thai. Do thiếu hoàn toàn dữ liệu lâm sàng, nhóm phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ cần tránh xa dược liệu này.
2. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Hiện tại chưa có bất kỳ dữ liệu khoa học nào về việc sử dụng cây seo gà cho trẻ nhỏ. Cơ thể trẻ có chức năng gan và thận chưa hoàn thiện, khả năng chuyển hóa và đào thải độc chất rất yếu. Trẻ nhỏ cũng là đối tượng vô cùng nhạy cảm với ngộ độc kim loại nặng như asen [3], [5]. Việc cho trẻ uống nước sắc từ cây seo gà theo các bài thuốc truyền miệng dân gian trị rôm sảy hay kiết lỵ tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cấp hoặc tổn thương nội tạng vĩnh viễn.
3. Người tỳ vị hư hàn, thể trạng suy nhược, có bệnh nền mạn tính
Những người thường xuyên bị lạnh bụng, đi ngoài phân lỏng, tiêu hóa kém (thuộc thể tỳ vị hư hàn) hoặc người có bệnh lý nền gan thận cần hết sức thận trọng. Toàn bộ các thử nghiệm độc tính của cây seo gà hiện chỉ được thực hiện trên động vật thí nghiệm khỏe mạnh dưới điều kiện kiểm soát gắt gao [2]. Người có thể trạng yếu hoặc chức năng lọc thải suy giảm rất dễ bị tổn thương nếu cơ thể phải xử lý các hợp chất lạ và kim loại nặng tồn lưu trong dược liệu chưa qua kiểm nghiệm.
Các nghiên cứu dược lý thực nghiệm nói gì về cây seo gà?
Bên cạnh đặc tính hút thạch tín, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần hóa học và tác dụng thực nghiệm của chiết xuất cây seo gà nhằm tìm kiếm ứng dụng điều trị.
Về thành phần hóa học, một nghiên cứu năm 2008 đã phân lập các hợp chất từ dịch chiết methanol của Pteris multifida bằng phương pháp sắc ký cột thường, sắc ký lớp mỏng giấy và sắc ký rây phân tử sephadex, xác định cấu trúc qua phổ khối ESI và phổ NMR [7]. Kết quả đã tách được 7 hợp chất gồm một glycoside sesquiterpene là pterosin C-3-O-beta-D-glucoside cùng 6 flavonoid: apigenin, luteolin, apigenin-7-O-beta-D-glucoside, apigenin-7-O-beta-D-glucosyl-4'-O-alpha-L-rhamnoside, apigenin-4'-O-alpha-L-rhamnoside và luteolin-7-O-beta-D-glucoside [7]. Trong đó, apigenin, luteolin và hai dạng dẫn xuất rhamnoside lần đầu tiên được phân lập từ loài này [7].
Về cấu trúc di truyền, nghiên cứu năm 2021 lắp ráp bộ gene lục lạp hoàn chỉnh của mẫu lá Pteris multifida thu thập tại huyện Dương Bị, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc [1]. Bộ gene lục lạp có chiều dài 153.916 cặp bazơ (bp), mang cấu trúc 4 phần điển hình gồm vùng bản sao đơn lớn (82.027 bp), vùng bản sao đơn nhỏ (21.129 bp) và một cặp lặp đảo ngược (25.380 bp) [1]. Tổng cộng có 132 gene được chú giải (89 gene mã hóa protein, 35 gene tRNA và 8 gene rRNA), cho thấy mối quan hệ phát sinh loài gần gũi với loài Pteris vittata [1].
Về tác dụng trên bệnh phì đại tuyến tiền liệt, một nghiên cứu công bố năm 2017 đã phân tích dịch chiết flavonoid tổng số từ Pteris multifida và ghi nhận 10 flavonoid chủ chốt [2]. Sau 60 ngày dùng đường uống với liều 180 mg/kg trên chuột nhắt bị phì đại tuyến tiền liệt lành tính, dịch chiết flavonoid tổng số đã làm giảm chỉ số tuyến tiền liệt rõ rệt [2]. Phân tích hóa mô miễn dịch cho thấy dịch chiết ức chế biểu hiện yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) và kích hoạt biểu hiện yếu tố tăng trưởng biến đổi beta 1 (TGF-beta 1) tại mẫu mô tuyến tiền liệt [2].
Thử nghiệm độc tính bán mạn tính trong 90 ngày cũng được thực hiện trên chuột cống đực giống Sprague-Dawley [2]. Kết quả xác định mức liều không quan sát thấy tác dụng phụ bất lợi (NOAEL) của dịch chiết này là 200 mg/kg thể trọng/ngày [2]. Các nhà nghiên cứu kết luận dịch chiết flavonoid tổng số thể hiện tác dụng tích cực đi kèm tính an toàn trên mô hình động vật, mở ra tiềm năng điều trị phì đại tuyến tiền liệt [2].
Về khả năng ức chế khối u, nghiên cứu năm 2013 thử nghiệm trên mô hình chuột mang khối u ghép H22 chia thành các nhóm mô hình, nhóm flavonoid tổng số liều cao, liều thấp và nhóm dùng thuốc đối chứng CTX [6]. Nhóm chuột dùng flavonoid từ Pteris multifida được cho uống liên tục trong 10 ngày, còn nhóm CTX dùng cách ngày [6]. Kết quả cho thấy chiết xuất flavonoid ức chế rõ rệt sự phát triển của khối u, với tỷ lệ ức chế ở nhóm liều cao đạt 49,36% và nhóm liều thấp đạt 33,97% [6].
Nghiên cứu cũng ghi nhận sự gia tăng chỉ số tuyến ức và lá lách ở chuột mang u, tăng nồng độ TNF-alpha và IL-2 trong huyết thanh, tăng tổng năng lực chống oxy hóa (T-AOC) và làm giảm nồng độ malondialdehyde (MDA) trong huyết thanh [6]. Cơ chế được giải thích là nhờ cải thiện chức năng miễn dịch và tăng cường khả năng chống oxy hóa ở chuột [6].
Giới hạn của bằng chứng và những hiểu lầm thường gặp
Mặc dù các nghiên cứu trên mở ra nhiều triển vọng, độc giả cần nhìn nhận rõ các giới hạn khoa học quan trọng:
- Mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm trên động vật: Toàn bộ các kết quả hỗ trợ tuyến tiền liệt hay ức chế u ghép H22 đều thực hiện trên chuột nhắt và chuột cống [2], [6]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành trên người. Cơ thể người có hệ chuyển hóa, dung nạp và phản ứng hoàn toàn khác biệt so với loài gặm nhấm.
- Dịch chiết tinh khiết khác với nước sắc thô: Trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học sử dụng dịch chiết flavonoid tổng số đã được tinh chế, loại bỏ tạp chất [2], [6]. Việc người dân tự ý hái cây đun sắc nước uống sẽ dung nạp toàn bộ các chất chưa rõ nguồn gốc, bao gồm cả độc chất tích tụ trong cây.
- Hiểu lầm "cây cỏ tự nhiên là an toàn": Quan niệm thảo mộc mọc ngoài bờ tường, bụi rậm không có độc tính là sai lầm nguy hiểm. Như các phân tích môi trường đã chỉ ra, cây seo gà hấp thụ kim loại nặng asen rất mạnh từ đất [3], [4], [5]. Uống nước sắc thô từ cây mọc hoang không rõ nguồn gốc đất trồng có thể dẫn đến nguy cơ ngộ độc kim loại nặng tích lũy [5].
- Cây seo gà không thể thay thế phác đồ điều trị y khoa: Dược liệu này hoàn toàn không thể thay thế các thuốc điều trị ung thư hay thuốc chữa phì đại tuyến tiền liệt do bác sĩ chỉ định.
Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn
Để đảm bảo an toàn tính mạng và sức khỏe, người dân cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Không tự ý thu hái cây mọc hoang: Cây seo gà mọc gần cống rãnh, chân tường ẩm thấp, vùng đất ô nhiễm có thể tích tụ lượng lớn thạch tín [1], [3], [4]. Tuyệt đối không tự ý nhổ cây hoang dại về phơi khô sắc uống.
- Không tự ý định lượng hay áp dụng liều dùng: Các nghiên cứu khoa học hiện nay chỉ đưa ra liều lượng thí nghiệm trên động vật (như liều 180 mg/kg trên chuột nhắt hoặc NOAEL 200 mg/kg trên chuột cống) [2]. Chưa có liều lượng an toàn tiêu chuẩn cho cơ thể người. Người dùng chỉ nên dùng lượng vừa phải theo đúng bài thuốc được cấp phép và phải tham khảo ý kiến bác sĩ y học cổ truyền.
- Hỏi ý kiến bác sĩ khi có bệnh nền: Người đang mắc các bệnh lý mạn tính, người suy gan, suy thận hoặc đang dùng các thuốc điều trị tây y cần tham vấn chuyên môn y tế trước khi dùng bất kỳ chế phẩm nào chứa cây seo gà để tránh tương tác thuốc bất lợi.
Cây seo gà là loại thảo mộc có lịch sử lâu đời trong dân gian và đang thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu nhờ chứa các flavonoid tiềm năng [2], [7]. Tuy nhiên, do đặc tính siêu tích tụ asen từ môi trường sống cùng việc thiếu vắng các thử nghiệm an toàn trên người, người dân không nên tự ý sử dụng bừa bãi [3], [4]. Phụ nữ mang thai, người đang nuôi con nhỏ, trẻ em và người có thể trạng tỳ vị hư hàn cần thận trọng tối đa và tuân thủ chặt chẽ chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

