Nhiều người có thói quen dùng vỏ cây sến đỏ để sắc nước uống trị bệnh theo lời mách bảo dân gian. Nước sắc vỏ cây thường được đồn thổi giúp thanh lọc cơ thể, trị viêm nhiễm, bồi bổ sức khỏe nhanh chóng. Tuy nhiên, việc tự ý dùng dược liệu chứa nhiều hợp chất tự nhiên mạnh khi chưa hiểu rõ thành phần tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
Người bị viêm loét dạ dày, suy giảm chức năng gan, thận nặng hoặc sắp phẫu thuật không nên tự ý dùng nước sắc vỏ cây sến đỏ. Dược liệu chứa hàm lượng phenolic đậm đặc có thể kích thích niêm mạc đường tiêu hóa, gây khó tiêu hoặc tạo thêm gánh nặng chuyển hóa. Người có bệnh lý nền cần thận trọng cao độ trước các bài thuốc truyền miệng.
Cơ chế tác động của hoạt chất sến đỏ
Cây sến đỏ có tên khoa học là Shorea roxburghii, một loài thực vật thuộc họ Dầu nhiệt đới [1]. Trong dân gian, vỏ và thân cây thường được đem phơi khô rồi sắc nước uống. Về mặt hóa học thực vật, các bộ phận của cây sến đỏ chứa nhiều hợp chất polyphenol, flavonoid và resveratrol [1] [2].
Hợp chất phenolic có tính khử mạnh, hỗ trợ chống lại các gốc tự do [1] [3]. Tuy nhiên, các phân đoạn dịch chiết đậm đặc từ vỏ và rễ cây cũng thể hiện độc tính tế bào rất mạnh [1] [2]. Khi đi vào cơ thể người qua đường uống, nồng độ hoạt chất thực vật cao chưa qua tinh chế dễ làm biến tính protein ở bề mặt niêm mạc. Điều này giải thích vì sao nước sắc vỏ cây quá đặc thường gây chát đắng gắt miệng, cồn cào và xót ruột.
Nghiên cứu khoa học nói gì về sến đỏ?
Các nghiên cứu thực nghiệm hiện đại về cây sến đỏ (Shorea roxburghii) tập trung khảo sát hoạt tính trong phòng thí nghiệm và trên động vật, chưa có thử nghiệm lâm sàng trực tiếp trên người.
Một nghiên cứu công bố năm 2013 đã tiến hành thử nghiệm hoạt tính chống oxy hóa từ vỏ thân cây sến đỏ (Shorea roxburghii) [3]. Các nhà nghiên cứu dùng chiết xuất axeton và metanol từ vỏ thân để đánh giá khả năng dọn gốc tự do ABTS và hydro peroxit so với vitamin C [3]. Kết quả cho thấy chiết xuất axeton và metanol dọn gốc tự do ABTS theo liều lượng, với giá trị IC50 lần lượt là 55,24 mcg/ml và 55,96 mcg/ml (trong khi vitamin C đạt 43,05 mcg/ml) [3]. Về khả năng trung hòa hydro peroxit, giá trị IC50 của chiết xuất axeton đạt 87,18 mcg/ml và metanol đạt 63,67 mcg/ml [3]. Nghiên cứu cho thấy vỏ thân sến đỏ chứa chất chống oxy hóa mạnh, song chỉ được đo trong ống nghiệm hóa học, chưa đánh giá an toàn khi người uống [3].
Năm 2024, một nghiên cứu khác khảo sát hoạt tính chống ung thư tiêu hóa từ dịch chiết hoa của cây sến đỏ [1]. Bằng phương pháp Folin-Ciocalteu và nhôm clorua, nhóm nghiên cứu phát hiện chiết xuất etyl axetat chứa lượng phenolic và flavonoid cao nhất [1]. Trên ba dòng tế bào ung thư đường tiêu hóa (KKU-213B, HepG2 và AGS), chiết xuất etyl axetat ức chế tế bào với giá trị IC50 lần lượt là 91,60 mcg/ml, 39,38 mcg/ml và 35,59 mcg/ml, đồng thời ít gây độc cho tế bào nguyên bào sợi bình thường [1]. Chiết xuất này tạo ra các gốc oxy hóa phản ứng (ROS) và gây teo tế bào ung thư thông qua ức chế protein chống chết tế bào Bcl-2 [1]. Nghiên cứu xác định axit cinnamic và dẫn xuất liên quan mật thiết tới khả năng triệt tiêu tế bào, tuy nhiên toàn bộ thí nghiệm thực hiện trên đĩa nuôi cấy tế bào, chưa chứng minh được hiệu quả hay tính an toàn trên bệnh nhân thực tế [1].
Năm 2022, tác dụng bảo vệ thận của dịch chiết phenolic từ sến đỏ (SRPF) được thử nghiệm trên chuột bị nhiễm độc thận do thuốc cyclophosphamide (CTX) [4]. Chuột được cho uống dịch chiết phenolic sến đỏ liều 100 mg/kg và 400 mg/kg trong 5 tuần đồng thời với dùng thuốc CTX [4]. Kết quả ghi nhận dịch chiết giúp giảm đáng kể nồng độ creatinin huyết thanh, urê máu (BUN), axit uric, cùng các chất gây viêm như MDA, IL-6, TNF-alpha, IL-1beta, NF-kB và caspase-3 ở thận [4]. Đồng thời, SRPF làm tăng hoạt tính các enzym chống oxy hóa của thận như SOD, CAT, GSH và GPx, cải thiện tổn thương mô bệnh học thận [4]. Dù vậy, đây là kết quả trên chuột thí nghiệm với dịch chiết phenolic chuẩn hóa, không đồng nghĩa với việc người bệnh uống nước sắc vỏ cây thô sơ sẽ an toàn [4].
Ngoài ra, một nghiên cứu công bố năm 2011 phân lập được chất dimer resveratrol mới tên roxburghiol A cùng 11 hợp chất từ rễ cây sến đỏ [2]. Thử nghiệm cho thấy hai hợp chất số 8 và 9 thể hiện độc tính tế bào rất mạnh trên dòng tế bào ung thư KB và HeLa với giá trị IC50 lần lượt là 6,5; 8,5 mcg/ml và 8,7; 10,1 mcg/ml [2]. Nghiên cứu này khẳng định sến đỏ chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học rất cao và khả năng gây độc tế bào [2].
Giới hạn của bằng chứng hiện có
Các kết quả nghiên cứu hiện có cho thấy cây sến đỏ (Shorea roxburghii) là nguồn dược liệu giàu tiềm năng chống oxy hóa [1] [4] [3]. Tuy nhiên, khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới việc sử dụng đời sống còn rất xa.
Tất cả các thử nghiệm sinh học mới dừng lại ở ống nghiệm, tế bào nuôi cấy nhân tạo và mô hình động vật gặm nhấm [1] [4] [2]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên cơ thể người để xác định liều uống an toàn hay khả năng dung nạp của cơ thể [1] [4]. Nước sắc thủ công từ vỏ cây chứa hỗn hợp hàng trăm tạp chất chưa tách chiết, nồng độ dao động khó kiểm soát, tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc tế bào hoặc tương tác bất lợi [2].
Hiểu lầm thường gặp về nước sắc vỏ cây
Sai lầm phổ biến nhất là quan niệm "cây cỏ tự nhiên hoàn toàn lành tính, uống càng đậm đặc càng nhanh khỏi bệnh". Trên thực tế, vỏ cây rừng tích tụ hàm lượng lớn các chất bảo vệ thực vật nhằm chống lại nấm mốc và côn trùng. Khi sắc thô sơ, các chất kết tủa và hợp chất phenolic hòa tan ồ ạt vào nước, tạo ra vị đắng chát rất khó uống [3].
Nhiều người nhầm tưởng nước sắc sến đỏ có thể thay thế thuốc chữa suy thận hay ung thư do nghe ngóng thông tin khoa học chưa đầy đủ. Thử nghiệm bảo vệ thận ở chuột sử dụng dịch chiết chuẩn hóa liều lượng nghiêm ngặt (100–400 mg/kg), không phải nước đun vỏ cây tự nấu [4]. Uống nước sắc thô không thể thay thế phác đồ điều trị y khoa đã được chuẩn hóa.
Những ai không nên dùng nước sắc sến đỏ?
Nhóm người có tiền sử viêm loét dạ dày, tá tràng hoặc trào ngược thực quản tuyệt đối không nên dùng. Nước sắc vỏ cây thô chứa lượng chất chát phenolic cao dễ gây kích ứng trực tiếp lớp niêm mạc đang tổn thương [1] [3]. Người uống có thể gặp triệu chứng đau rát thượng vị, buồn nôn, cồn cào hoặc xuất huyết tiêu hóa.
Người bị suy gan, suy thận mạn tính cần tránh xa loại nước sắc tự chế này. Mặc dù chiết xuất tinh khiết có khả năng giảm tổn thương thận trên chuột [4], dịch thô từ vỏ sến đỏ lại chứa nhiều hợp chất chuyển hóa phức tạp và độc tính tế bào chưa rõ ràng trên người [2]. Gan và thận đang suy yếu sẽ phải gánh thêm áp lực đào thải các chất lạ, làm tăng nguy cơ suy tạng cấp tính.
Người chuẩn bị phẫu thuật hoặc có rối loạn đông máu cũng không nên uống. Các hợp chất sinh học và polyphenol trong thực vật có thể tương tác với cơ chế cầm máu hoặc làm chậm quá trình hấp thu thuốc gây mê, gây rủi ro mất máu trong phòng mổ.
Phụ nữ mang thai, bà mẹ đang nuôi con bằng sữa mẹ và trẻ nhỏ là nhóm chưa từng được nghiên cứu tính an toàn đối với sến đỏ. Tuyệt đối không dùng cho nhóm đối tượng nhạy cảm này vì nguy cơ gây độc tế bào tiềm ẩn [1] [2].
Áp dụng thực tế và lưu ý sử dụng
Nếu người khỏe mạnh muốn dùng nước sắc thảo mộc có chứa thành phần vỏ cây sến đỏ, chỉ nên dùng với lượng vừa phải dạng loãng, không đun quá đặc hay uống thay nước lọc cả ngày.
Tuyệt đối không uống nước sắc khi bụng đói để tránh kích ứng niêm mạc dạ dày. Khi phát hiện các dấu hiệu lạ như cồn cào ruột, buồn nôn, tiêu chảy, mẩn ngứa hoặc chóng mặt, cần dừng ngay lập tức và đến cơ sở y tế kiểm tra. Không tự ý kết hợp vỏ sến đỏ với các loại tân dược điều trị bệnh tim mạch, tiểu đường hay thuốc chống đông máu.
Nước sắc vỏ cây sến đỏ tuy chứa các hoạt chất chống oxy hóa tự nhiên nhưng tiềm ẩn độc tính tế bào thực nghiệm và nguy cơ kích ứng tiêu hóa. Người bệnh viêm loét đường ruột, suy giảm chức năng gan thận hay người sắp phẫu thuật không nên dùng để tránh rủi ro biến chứng. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi áp dụng bất kỳ loại thảo mộc nào vào chăm sóc sức khỏe.

