Ở nhiều vùng ven biển, thịt rùa biển hay đồi mồi từng được một số người coi là món đặc sản bổ dưỡng hoặc bài thuốc truyền miệng. Tuy nhiên, hành vi săn bắt và sử dụng đồi mồi làm thực phẩm tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cấp tính đặc biệt nghiêm trọng. Không ít vụ ngộ độc tập thể dẫn đến nhiều ca tử vong thương tâm đã xảy ra chỉ sau một bữa ăn có thịt đồi mồi.

Ăn thịt đồi mồi hoàn toàn không mang lại lợi ích bồi bổ sức khỏe mà có thể gây ngộ độc Chelonitoxism – một hội chứng nhiễm độc hải sản cực kỳ nguy hiểm. Độc chất sinh học tích tụ trong thịt, mỡ và nội tạng của đồi mồi có thể dẫn đến suy đa tạng, hôn mê sâu và cướp đi sinh mạng người ăn trong thời gian ngắn [1]. Đáng ngại hơn, khoa học hiện vẫn chưa xác định được chính xác hoàn toàn tác nhân độc tố gây bệnh và hoàn toàn chưa có thuốc giải độc đặc hiệu [1, 2, 7].

Hiểm họa ngộ độc Chelonitoxism là gì?

Ngộ độc thực phẩm từ việc ăn thịt hoặc nội tạng rùa biển, đồi mồi được gọi theo thuật ngữ y khoa là Chelonitoxism [1, 2, 5]. Đây là dạng ngộ độc hải sản nguy hiểm xuất hiện chủ yếu tại các cộng đồng dân cư sinh sống ở vùng duyên hải và các hòn đảo thuộc khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương [4, 7]. Bất kỳ ai ăn phải cá thể mang mầm độc đều có nguy cơ nhiễm bệnh nghiêm trọng [2].

Mọi loài rùa biển đều có khả năng chứa độc tố trong cơ thể [2]. Trong đó, loài đồi mồi (tên khoa học là Eretmochelys imbricata) là một trong những loài ghi nhận nhiều vụ ngộ độc hàng loạt nhất với tỷ lệ tử vong đáng báo động [1, 5]. Độc tố không làm con vật bị bệnh mà tích tụ âm thầm qua chuỗi thức ăn tự nhiên của chúng [3].

Khi con người ăn phải thịt, mỡ hoặc nội tạng chứa độc tố, các hợp chất này sẽ nhanh chóng phát tán và tấn công các cơ quan nội tạng [4, 5]. Đặc điểm nguy hiểm của Chelonitoxism là khởi phát triệu chứng phức tạp từ đường tiêu hóa, thần kinh đến tai mũi họng, diễn tiến xấu nhanh chóng và có tỷ lệ tử vong rất cao [2, 4, 7].

Cơ chế tác động và những tổn thương nguy kịch đến cơ thể

Theo các bằng chứng tổng hợp y khoa, căn nguyên sinh học chính xác của Chelonitoxism hiện vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn do các xét nghiệm thông thường chưa thể định danh độc chất gây bệnh [1, 2, 7]. Giả thuyết được giới khoa học đưa ra là độc tố lyngbyatoxin bắt nguồn từ vi khuẩn lam Moorena producens bám trên cỏ biển và rong biển mà rùa biển tiêu thụ [3]. Tuy nhiên, bằng chứng về sự liên quan này vẫn còn hạn chế và các hợp chất khác có thể là thủ phạm chính [3].

Khi độc tố xâm nhập vào cơ thể người, dấu hiệu đặc trưng ban đầu thường là cảm giác nóng rát ở miệng, họng, đau vùng thượng vị, tiêu chảy và nôn mửa [3]. Nhiều bệnh nhân gặp phải tình trạng loét trợt thực quản - dạ dày - tá tràng nghiêm trọng và mất nước cấp tính [3]. Việc ăn phải mỡ đồi mồi thường dẫn đến các thể bệnh trung bình và nặng ở người trưởng thành [4].

Nguy cơ đe dọa tính mạng cao nhất ở hội chứng này là tổn thương hệ thống cơ quan. Các trường hợp nhiễm độc nặng có thể nhanh chóng rơi vào hôn mê và tử vong do suy đa cơ quan [1]. Ngoài ra, các phân tích cũng chỉ ra rằng độc chất có khả năng bài tiết qua sữa mẹ, biến nguồn sữa của người mẹ tiêu thụ thịt đồi mồi thành mối nguy hại chết người cho trẻ bú mẹ [5].

Nghiên cứu dịch tễ học nói gì về các vụ ngộ độc đồi mồi?

Hồ sơ y khoa ghi nhận nhiều thảm kịch ngộ độc tập thể do ăn thịt đồi mồi trên phạm vi toàn cầu. Một báo cáo tổng quan công bố năm 2024 đã thống kê các đợt bùng phát ngộ độc rùa biển trên toàn thế giới, ghi nhận tổng cộng hơn 2.400 nạn nhân và 420 ca tử vong [3]. Gần đây nhất vào tháng 3 năm 2024, một vụ ngộ độc tại đảo Pemba thuộc Tanzania đã khiến 9 người thiệt mạng và 78 người khác phải nhập viện [3].

Năm 2010, một vụ ngộ độc hàng loạt chấn động xảy ra tại đảo san hô Murilo thuộc Chuuk, Liên bang Micronesia sau khi người dân cùng ăn một con đồi mồi (Eretmochelys imbricata) [2]. Nghiên cứu thuần tập dịch tễ công bố năm 2015 cho thấy có 95 người phát bệnh và 6 người tử vong (gồm 4 trẻ em và 2 người lớn) trong số 101 người ăn thịt đồi mồi, tương ứng tỷ lệ mắc bệnh lên tới 84% [2]. Nguy cơ tương đối mắc bệnh sau khi tiêu thụ thịt con vật này là 11,1 lần (khoảng tin cậy 95%: 4,8 - 25,9) [2]. Nghiên cứu xác nhận mối quan hệ phụ thuộc liều lượng giữa lượng thịt ăn vào và nguy cơ khởi phát bệnh [2]. Dù đã điều tra môi trường và phân tích mẫu bệnh phẩm, xét nghiệm phòng thí nghiệm không tìm ra được tác nhân gây bệnh cụ thể [2].

Tại Polynesia thuộc Pháp, một báo cáo ca bệnh năm 2007 ghi nhận đợt ngộ độc tập thể ảnh hưởng đến 19 thành viên trong cùng một gia đình sau khi ăn thịt rùa biển [1]. Có 3 người phải nhập viện điều trị sau 2 bữa ăn liên tiếp có thịt rùa biển [1]. Trong đó, một phụ nữ 26 tuổi đang mang thai ở tuần thứ 14 mất kinh đã rơi vào trạng thái hôn mê và tử vong do suy đa tạng vào ngày thứ ba sau bữa ăn [1]. Nghiên cứu này khẳng định mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong cao của Chelonitoxism nhưng độc tố gây bệnh vẫn chưa được xác định [1].

Tháng 5 năm 2014, một thảm kịch khác bùng phát tại làng chài Antsanitia, vùng tây bắc Mahajanga, Madagascar với 76 bệnh nhân nhập viện có độ tuổi từ 3 tháng đến 79 tuổi (51 người lớn tại khoa cấp cứu và 25 trẻ em tại khoa nhi) [4]. Báo cáo năm 2017 mô tả các dấu hiệu lâm sàng chủ yếu là rối loạn tiêu hóa, thần kinh và tổn thương tai mũi họng [4]. Dấu hiệu chuyển nặng ở người lớn xuất hiện trong vòng 72 giờ và các triệu chứng ngộ độc chỉ biến mất sau 12 ngày hồi sức tích cực [4]. Thể nặng chiếm ưu thế ở trẻ em với các ca tử vong diễn ra sớm hoặc trì hoãn từ ngày thứ hai đến ngày thứ sáu sau khi ăn [4].

Cũng từ vụ ngộ độc 76 người tại Madagascar do ăn đồi mồi (Eretmochelys imbricata), một nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 7 bà mẹ đang cho con bú và 7 đứa trẻ bú mẹ đã chỉ ra nguy cơ lây truyền độc chất [5]. Thời gian ủ bệnh tối đa ở trẻ bú mẹ là 24 giờ, và dấu hiệu ban đầu giữa mẹ và bé hoàn toàn khác nhau [5]. Đã có 4 trẻ bú mẹ xuất hiện dấu hiệu chuyển nặng và tử vong, trong khi không có người mẹ nào tử vong [5]. Sữa mẹ được đánh giá là độc hại ngang thịt đồi mồi, đặc biệt khi trẻ bú lượng sữa lớn; tiên lượng phục hồi chỉ tốt ở những trẻ không được mẹ cho bú sau bữa ăn thịt đồi mồi [5].

Bên cạnh đó, các nghiên cứu bệnh học mô tả trên 44 rùa con đồi mồi chết trong quá trình cứu hộ giai đoạn 2015-2021 tại vùng đông Caribe ghi nhận các tổn thương như viêm da (34%), biến dạng xương (23%), viêm phổi (23%), thoái hóa hoại tử cơ vân (13%) và hoại tử ống thận cấp (13%) [6]. Hay nghiên cứu năm 2021 tại Grenada xác định loài sán ký sinh Diaschistorchis pandus trên mẫu khám nghiệm đồi mồi tự nhiên [7]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào bệnh học và ký sinh trùng ở bản thân rùa biển, không trực tiếp khảo sát độc tính Chelonitoxism gây suy thận hay ngộ độc ở người [3, 6]. Một nghiên cứu năm 2008 về cơ chế ngộ độc amoniac cấp tính chỉ được thực hiện trên loài ba ba Pelodiscus sinensis, không liên quan đến đồi mồi biển hay hội chứng Chelonitoxism [8].

Hiểu lầm tai hại: Nấu chín kỹ có khử được độc đồi mồi?

Một trong những sai lầm phổ biến nhất trong dân gian là suy nghĩ nấu sôi, ninh nhừ hoặc chế biến kỹ thịt và nấu cao đồi mồi sẽ phân hủy hết chất độc. Trên thực tế, các đợt ngộ độc Chelonitoxism hàng loạt cho thấy dù người dân chế biến kỹ qua các bữa ăn truyền thống, độc tính vẫn không hề suy giảm và tiếp tục gây ngộ độc cho người ăn [1, 2, 4].

Nhiều người cũng lầm tưởng rằng có thể nhận biết cá thể đồi mồi nhiễm độc qua mắt thường, màu sắc hay mùi vị thịt. Các cuộc điều tra dịch tễ xác nhận không có bất kỳ dấu hiệu nhận biết cảm quan nào để phân biệt con đồi mồi có độc hay không trước khi nấu [1, 7]. Thịt mang độc tố hoàn toàn không có mùi lạ và quá trình ăn uống diễn ra bình thường cho đến khi cơ thể phát tán triệu chứng [1, 7].

Ngoài ra, định kiến cho rằng một loại rượu ngâm hay phương thuốc dân gian nào đó có thể giải được độc đồi mồi là hoàn toàn sai lầm. Y văn thế giới khẳng định Chelonitoxism hiện chưa có thuốc giải độc đặc hiệu nào; việc điều trị hoàn toàn dựa vào hồi sức tích cực và điều trị triệu chứng hỗ trợ nâng cao thể trạng [1, 2, 4].

Nhóm đối tượng đối mặt nguy cơ tử vong cao nhất

Mọi lứa tuổi khi tiêu thụ thịt hoặc các sản phẩm từ đồi mồi đều có nguy cơ bị ngộ độc [1, 4]. Tuy nhiên, các số liệu dịch tễ chỉ ra những nhóm đối tượng sau đây có tiên lượng xấu nhất và tỷ lệ tử vong cao nhất:

Trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh là nhóm chịu tổn thương nghiêm trọng nhất [1, 4, 5]. Trong vụ ngộ độc tại Micronesia, có tới 4 trong số 6 ca tử vong là trẻ em [2]. Tại Madagascar, thể bệnh nặng chiếm ưu thế ở trẻ em và cướp đi sinh mạng nhiều bệnh nhi chỉ trong vòng từ 2 đến 6 ngày [4].

Trẻ đang bú mẹ đối mặt với hiểm họa khôn lường nếu người mẹ đã ăn thịt đồi mồi [5]. Việc bú sữa mẹ là yếu tố tiên lượng tử vong trực tiếp ở trẻ, bởi các độc tố chelonitoxin bài tiết nguyên vẹn qua dòng sữa mẹ [4, 5]. Bốn trẻ bú mẹ đã tử vong trong đợt dịch tễ dù mẹ của các bé không ai qua đời [5].

Phụ nữ mang thai cũng là đối tượng đặc biệt nhạy cảm, dễ rơi vào suy đa phủ tạng dẫn đến tử vong nhanh chóng sau khi tiêu thụ thịt rùa biển [1]. Bên cạnh đó, những người tiêu thụ lượng lớn thịt đồi mồi hoặc ăn phần mỡ của con vật đều đối mặt với nguy cơ khởi phát triệu chứng intermediate hoặc nghiêm trọng [1, 4].

Khuyến cáo y tế và cách phòng ngừa

Biện pháp phòng ngừa an toàn và hiệu quả duy nhất đối với hội chứng Chelonitoxism là tuyệt đối không săn bắt, mua bán hay tiêu thụ thịt, trứng, mỡ và nội tạng của đồi mồi cũng như các loài rùa biển [1, 4, 7]. Không có mức tiêu thụ nào được xem là an toàn đối với các cá thể mang mầm độc [2].

Trong trường hợp người mẹ đã lỡ ăn phải thịt đồi mồi hoặc sinh sống tại vùng vừa xảy ra dịch ngộ độc hải sản, cần phải lập tức ngừng cho con bú sữa mẹ ngay lập tức để bảo toàn tính mạng của trẻ [5].

Nếu phát hiện bản thân hoặc người xung quanh có dấu hiệu bất thường như bỏng rát khoang miệng, họng, buồn nôn, tiêu chảy sau khi ăn phải thịt rùa biển, cần đưa bệnh nhân đến ngay các cơ sở y tế gần nhất [4, 7]. Việc cấp cứu kịp thời và can thiệp hồi sức tích cực đóng vai trò sống còn trong việc kiểm soát các biến chứng nặng của ngộ độc [4].

Thịt đồi mồi không phải là thực phẩm bổ dưỡng mà là mối nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người. Trước mối nguy không thể giải độc và tỷ lệ tử vong cao, loại bỏ hoàn toàn thói quen ăn thịt đồi mồi là cách duy nhất bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng [1, 7].