Người bệnh đái tháo đường type 2 thường tìm mua nhân sâm bồi bổ cơ thể, giảm mệt mỏi [1]. Thắc mắc lớn nhất là sâm có giúp hạ đường huyết hay gây nguy hiểm khi dùng chung thuốc tây hay không.
Câu trả lời ngắn gọn: Nhân sâm và hoạt chất ginsenoside có khả năng hỗ trợ hạ đường huyết mức độ khiêm tốn [4, 8]. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc lớn vào giống sâm, cách chế biến và liều lượng [1, 5]. Do có tác dụng làm giảm đường máu và tăng tiết insulin, dùng sâm tùy tiện cùng thuốc điều trị có thể dẫn đến nguy cơ hạ đường huyết quá mức [4, 5, 6].
Cơ chế tác động của ginsenoside lên đường huyết
Đái tháo đường là rối loạn chuyển hóa mạn tính đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết do thiếu hụt insulin tuyệt đối hoặc tương đối [2]. Trong đó, đái tháo đường type 2 phổ biến nhất, liên quan mật thiết đến tình trạng kháng insulin và sự suy giảm dần khối lượng lẫn chức năng của tế bào beta tuyến tụy [3, 6].
Hai loại sâm phổ biến nhất hiện nay là sâm châu Á (Panax ginseng) và sâm Mỹ (Panax quinquefolius hay Tây dương sâm) [1]. Theo y học cổ truyền, hai loại này có đặc tính khác nhau, trong đó sâm châu Á giúp tăng lưu thông máu và giảm mệt mỏi [1]. Cả hai loại đều được ghi nhận có đặc tính chống tăng đường huyết [3].
Thành phần chính tạo nên tác dụng này là ginsenoside (nhóm saponin steroid), bao gồm ginsenoside trung tính và malonyl ginsenoside [4]. Sâm châu Á điều chỉnh đường huyết qua ba cơ chế: tăng độ nhạy insulin, cải thiện chức năng tế bào beta tuyến tụy và kích thích tế bào thu nhận đường nhờ tăng sản xuất chất vận chuyển glucose (GLUT) [4]. Ginsenoside trung tính còn giúp điều hòa chuyển hóa mỡ và giảm cân [4].
Đối với sâm Mỹ, dược liệu này giúp tăng sản xuất insulin và giảm sự chết của tế bào beta tuyến tụy [1]. Nghiên cứu cơ chế cho thấy sâm Mỹ cải thiện khả năng đáp ứng miễn dịch và chức năng ty thể (nhà máy năng lượng) của tế bào [1]. Nhờ đó, sâm Mỹ giúp tăng mức insulin sau ăn và giảm phản ứng tăng đường huyết sau ăn ở người bệnh đái tháo đường type 2 [5, 6].
Nghiên cứu trên động vật nói gì?
Một nghiên cứu công bố năm 2012 đánh giá tác dụng của chiết xuất quả nhân sâm châu Á trên chuột bị đái tháo đường do thiếu hụt tế bào beta (gây ra bởi chất streptozotocin) [2]. Chuột được uống chiết xuất quả sâm chín (đỏ) hoặc chưa chín (xanh) với liều 100 hoặc 200 mg/kg cân nặng mỗi ngày trong 10 tuần [2].
Kết quả đo sau 5 và 10 tuần cho thấy cả hai loại chiết xuất đều làm giảm đáng kể đường huyết không nhịn ăn và cải thiện dung nạp glucose, liều cao cho hiệu quả tốt hơn [2]. Sự tiết insulin kích thích bởi glucose tăng đáng kể ở nhóm chuột dùng chiết xuất quả sâm so với nhóm đối chứng [2]. Thử nghiệm trong ống nghiệm cũng xác nhận chiết xuất quả sâm làm tăng sự sinh sôi (tăng sinh) của tế bào beta, mở ra tiềm năng tái tạo tế bào này [3, 4]. Ngoài ra, chiết xuất quả sâm châu Á còn cải thiện độ nhạy insulin ở chuột C57BL/6 trên 15 tháng tuổi [4]. Khi dùng riêng hoạt chất malonyl ginsenoside trên chuột ăn nhiều chất béo kết hợp tiêm streptozotocin, đường huyết lúc đói giảm rõ rệt, độ nhạy insulin cải thiện mà không làm thay đổi cân nặng [4].
Một nghiên cứu khác năm 2012 khảo sát tác dụng phòng ngừa biến chứng thận đái tháo đường của sâm Bắc Mỹ [3]. Thử nghiệm thực hiện trên chuột đái tháo đường type 1 (chuột C57BL/6) và type 2 (chuột db/db) cùng nhóm chứng tương đồng tuổi và giới tính [3]. Chuột được uống chiết xuất cồn từ rễ sâm Bắc Mỹ liều 200 mg/kg cân nặng mỗi ngày trong 2 hoặc 4 tháng [3].
Kết quả cho thấy sâm Bắc Mỹ cải thiện rõ rệt tình trạng rối loạn chuyển hóa [3]. Tại thận của chuột bệnh, sâm ngăn ngừa stress oxy hóa, giảm mức NF-kappaB (p65), giảm sự gia tăng bất thường của các protein chất nền ngoại bào (ECM) và các yếu tố vận mạch [3]. Tình trạng tiểu đạm (albumin niệu) và giãn rộng gian mạch cầu thận cũng được ngăn chặn nhờ cơ chế chống tăng đường huyết kết hợp chống oxy hóa [3]. Dù vậy, kết quả trên động vật không phải lúc nào cũng giống với thử nghiệm trên người [5].
Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng trên người
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược năm 2011 đã đánh giá hiệu quả của "ginsam" (chiết xuất giấm từ sâm châu Á) trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 chưa từng dùng thuốc [6]. Tổng cộng 72 bệnh nhân được chia đều vào 4 nhóm (mỗi nhóm 18 người), uống 1500 mg, 2000 mg, 3000 mg ginsam hoặc giả dược mỗi ngày trong 8 tuần [6].
Sau 8 tuần, chỉ số HbA1c (đường huyết trung bình 2-3 tháng) giảm đáng kể ở cả 3 nhóm dùng sâm: giảm 0,56% ở nhóm 1500 mg, giảm 0,31% ở nhóm 2000 mg và giảm 0,29% ở nhóm 3000 mg [6]. Nhóm dùng 1500 mg có sự khác biệt rõ rệt nhất so với mức giảm 0,02% của nhóm giả dược [6]. Đường huyết lúc đói cũng giảm tương ứng 21,40 mg/dL (nhóm 1500 mg), 14,27 mg/dL (nhóm 2000 mg) và 6,76 mg/dL (nhóm 3000 mg), so với mức giảm 2,25 mg/dL ở nhóm giả dược [6]. Tỷ lệ bệnh nhân giảm HbA1c trên 0,5% đạt 27,8% ở nhóm 1500 mg và 2000 mg, cao hơn hẳn mức 11,1% của nhóm giả dược, và không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng nào [6].
Một thử nghiệm mù đôi, đối chứng giả dược khác trên 20 bệnh nhân đái tháo đường type 2 (tuổi trung bình 51,5) ghi nhận việc bổ sung sâm châu Á giúp giảm khoảng 45% chỉ số kháng insulin (HOMA-IR), trong khi nhóm giả dược chỉ giảm 12% [4]. Một thử nghiệm kéo dài 12 tuần trên 80 bệnh nhân đái tháo đường type 2 (49 nam, 31 nữ) kết hợp dùng cả sâm châu Á và sâm Mỹ cho thấy chỉ số HbA1c giảm 0,3% [4].
Để có cái nhìn tổng thể, một phân tích gộp công bố năm 2014 đã tổng hợp dữ liệu từ 16 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (kéo dài từ 30 ngày trở lên) ở cả người mắc và không mắc đái tháo đường [4, 8]. Phân tích bao gồm 16 phép so sánh về đường huyết lúc đói (770 người), 10 so sánh về insulin huyết tương lúc đói (349 người), 9 so sánh về HbA1c (264 người) và 7 so sánh về chỉ số HOMA-IR (305 người) [7].
Kết quả phân tích gộp cho thấy nhân sâm làm giảm đáng kể đường huyết lúc đói so với nhóm chứng, với mức giảm trung bình là 0,31 mmol/L [7]. Tuy nhiên, sâm không tạo ra thay đổi có ý nghĩa thống kê trên toàn bộ dữ liệu về insulin lúc đói, HbA1c hay HOMA-IR (chỉ khi phân tích nhóm nhỏ các thử nghiệm song song mới thấy giảm HbA1c 0,22%) [7]. Giới hạn của bằng chứng này là 67% các thử nghiệm có thời gian ngắn (dưới 12 tuần) và người tham gia vốn đã kiểm soát đường huyết khá tốt (HbA1c trung vị ở nhóm không bệnh là 5,4% và nhóm đái tháo đường là 7,1%) [7].
Không phải loại sâm nào cũng giúp hạ đường huyết
Nhiều người lầm tưởng cứ uống nhiều sâm hoặc chọn loại có hàm lượng ginsenoside thật cao thì đường huyết sẽ giảm mạnh. Thực tế, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, bắt chéo đa liều công bố năm 2014 về bạch sâm Hàn Quốc (sâm châu Á không hấp) ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 đã chứng minh điều ngược lại [5].
Trong nghiên cứu này, dù mẫu bạch sâm có nồng độ ginsenoside cao gấp đôi (1,8% so với 0,8%) so với các nghiên cứu trước đó trên người khỏe mạnh, các nhà khoa học vẫn không ghi nhận được lợi ích hạ đường huyết cấp tính nào sau nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (75g-OGTT) [5]. Kết quả trung tính này trái ngược với hiệu quả giảm đường huyết sau ăn từng thấy ở sâm Mỹ, chiết xuất Ginsana G115 hay rễ phụ hồng sâm Hàn Quốc (loại đã qua hấp sấy) [5].
Thậm chí, hai nghiên cứu trước đó về sâm châu Á không hấp trên người khỏe mạnh còn ghi nhận tác dụng bằng không hoặc làm tăng đường huyết ngược trở lại [5]. Ngay cả với chiết xuất giấm sâm (ginsam), liều 1500 mg lại cho hiệu quả hạ đường huyết tốt hơn liều 2000 mg và 3000 mg [6]. Điều này chứng tỏ tăng liều không đồng nghĩa với tăng tác dụng [1, 7].
Hiểu lầm thường gặp về các sản phẩm sâm trên thị trường
Hiểu lầm phổ biến nhất của người bệnh là mua các loại sâm trôi nổi, tự ngâm rượu hoặc sắc uống với niềm tin chất lượng đều như nhau. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng hàm lượng ginsenoside có sự biến thiên rất lớn giữa các sản phẩm nhân sâm bán không kê đơn trên thị trường [8].
Sự chênh lệch hoạt chất này dẫn đến hiệu quả chống đái tháo đường cũng dao động mạnh, lúc tăng lúc giảm không lường trước được [1, 5]. Nếu không sử dụng các chiết xuất đã được chuẩn hóa, người bệnh rất khó kiểm soát liều lượng thực sự đưa vào cơ thể [8]. Ngoài ra, nhân sâm chỉ mang lại tác dụng cải thiện đường huyết ở mức độ khiêm tốn và ngắn hạn, hoàn toàn không thể thay thế các phác đồ thuốc điều trị chuẩn [5, 8].
Ai nên thận trọng khi dùng nhân sâm?
Nhóm cần đặc biệt thận trọng là bệnh nhân đái tháo đường đang tiêm insulin mỗi ngày hoặc đang uống thuốc hạ đường huyết theo đơn [5, 6]. Vì sâm có khả năng kích thích tụy tiết thêm insulin, tăng độ nhạy insulin và làm giảm đường huyết lúc đói lẫn sau ăn, việc dùng chồng chéo với thuốc tây có thể gây cộng gộp tác dụng, dẫn đến tụt đường huyết quá mức [4, 5, 8].
Những người có chỉ số đường huyết chưa ổn định hoặc đang phải điều chỉnh liều thuốc cũng không nên tự ý dùng thêm sâm [5, 7]. Các thử nghiệm an toàn như nghiên cứu về ginsam thực chất chỉ được thực hiện trên nhóm bệnh nhân mới mắc bệnh, chưa từng dùng thuốc điều trị đái tháo đường [6]. Người có bệnh nền phức tạp hoặc đang dùng nhiều loại thuốc bắt buộc phải hỏi ý kiến bác sĩ điều trị trước khi sử dụng.
Cách áp dụng thực tế an toàn cho người bệnh
Nếu muốn bổ sung sâm để hỗ trợ sức khỏe, người bệnh cần chọn đúng loại sâm đã được chứng minh lâm sàng, ưu tiên các sản phẩm chiết xuất chuẩn hóa từ sâm Mỹ hoặc hồng sâm để đảm bảo tính ổn định của hoạt chất ginsenoside [1, 5]. Không nên tự ý dùng bạch sâm (sâm chưa hấp) với mục đích hạ đường huyết cấp tính vì hiệu quả chưa được chứng minh [5].
Về liều lượng, không nên dùng theo tâm lý "càng nhiều càng bổ" vì nghiên cứu cho thấy liều vừa phải (như mức 1500 mg chiết xuất giấm sâm mỗi ngày) đạt hiệu quả tối ưu hơn liều cao 3000 mg [6]. Khi mới bắt đầu dùng sâm, người bệnh cần đo đường huyết mao mạch tại nhà thường xuyên hơn, cả lúc đói và sau ăn 2 giờ, để kịp thời phát hiện dấu hiệu hạ đường huyết [5, 7, 8].
Song song đó, người bệnh cần duy trì chế độ ăn uống cân bằng, uống đủ nước và tập luyện đều đặn. Nhân sâm có thể là một lựa chọn hỗ trợ sức khỏe nếu hiểu đúng bản chất của hoạt chất ginsenoside [4, 5]. Để tránh nguy cơ hạ đường huyết quá mức hoặc tương tác thuốc bất lợi, hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi đưa dược liệu này vào thói quen hàng ngày.


