Nhiều người Việt có thói quen xem nhân sâm như một vị thuốc bồi bổ vạn năng, thường xuyên pha trà sâm, ngâm rượu hoặc uống cao sâm liên tục từ tuần này sang tuần khác để tăng cường thể lực. Không ít người cho rằng thảo dược tự nhiên thì hoàn toàn vô hại và dùng càng nhiều, càng lâu dài thì cơ thể càng khỏe mạnh. Liệu thói quen uống sâm kéo dài nhiều tuần có thực sự an toàn hay có thể dẫn đến những tác dụng phụ không mong muốn?
Câu trả lời ngắn gọn là việc sử dụng sâm liên tục nhiều tuần với liều lượng không kiểm soát có thể gây ra nhiều tác dụng bất lợi cho cơ thể, đặc biệt là tình trạng y học mang tên "hội chứng lạm dụng sâm" [1]. Mặc dù sâm mang lại một số giá trị hỗ trợ sức khỏe khi dùng đúng mực, các dữ liệu y khoa cho thấy việc tự ý tăng liều hoặc lạm dụng kéo dài có nguy cơ kích hoạt phản ứng viêm, rối loạn huyết áp và gây xáo trộn nhiều chức năng sinh lý [2], [3].
Hội chứng lạm dụng sâm: Những biểu hiện thường gặp
Khái niệm "hội chứng lạm dụng sâm" (Ginseng Abuse Syndrome - GAS) đã được ghi nhận trong y văn nhằm chỉ nhóm triệu chứng xuất hiện ở những người thường xuyên dùng sâm sai cách hoặc dùng liều quá cao [1], [4]. Tình trạng này không chỉ đơn thuần là cảm giác nóng bức nhẹ mà bao gồm hàng loạt biểu hiện lâm sàng trên nhiều hệ cơ quan [1]. Người mắc hội chứng này thường ghi nhận hiện tượng đánh trống ngực, cảm giác nặng tức ở ngực và tăng chỉ số huyết áp [1].
Bên cạnh các dấu hiệu về tuần hoàn, hệ thần kinh cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt khi người dùng rơi vào trạng thái bồn chồn, chóng mặt, mất ngủ và kích động [1]. Về tiêu hóa, người lạm dụng sâm có thể gặp phải các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, chướng bụng, tiêu chảy và thậm chí là nguy cơ xuất huyết đường tiêu hóa trên [1]. Ngoài ra, các biểu hiện khác như phù nề và phát ban đỏ trên bề mặt da cũng đã được thống kê trong các tài liệu y khoa [1]. Dưới góc nhìn của y học cổ truyền, phần lớn các phản ứng bất lợi này biểu hiện cho tình trạng khí thịnh quá mức hoặc ứ trệ khí trong cơ thể [1].
Cơ chế tác động: Phản ứng viêm và sự xáo trộn chuyển hóa
Để tìm hiểu nguyên nhân sâu xa dẫn đến hội chứng lạm dụng sâm, các nhà khoa học đã tiến hành các thử nghiệm sinh học chuyên sâu nhằm làm rõ phản ứng ở cấp độ tế bào [3]. Một nghiên cứu năm 2023 thực hiện trên đại thực bào RAW 264.7 đã chỉ ra rằng việc lạm dụng nhân sâm thúc đẩy các phản ứng gây viêm [3]. Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã phân lập các chất hòa tan trong nước có trọng lượng phân tử cao từ nhân sâm và nhận thấy chúng làm tăng biểu hiện của các cytokine gây viêm cũng như protein cyclooxygenase 2 [3].
Phân đoạn tinh sạch sâu hơn, ký hiệu là GFC-F1, được xác định là thành phần tiềm năng gây ra hội chứng lạm dụng sâm khi làm tăng phiên mã hàng loạt chất trung gian gây viêm như interleukin 1beta, interleukin 6, yếu tố hoại tử khối u alpha và men tổng hợp nitric oxide cảm ứng [3]. Hoạt chất này kích hoạt con đường tín hiệu NF-kappaB và p38 MAPK, thúc đẩy giải phóng các yếu tố tiền viêm [3]. Đáng chú ý, việc sử dụng chất ức chế con đường NF-kappaB đã làm giảm sản xuất nitric oxide do phân đoạn này tạo ra, xác nhận vai trò trực tiếp của phản ứng viêm trong các biểu hiện lạm dụng [3].
Bên cạnh phản ứng viêm, hiện tượng "bốc hỏa" hay sinh nhiệt quá mức do lạm dụng sâm liều cao cũng được phân tích qua thực nghiệm chuyển hóa năng lượng [5]. Một nghiên cứu năm 2016 trên chuột KM kéo dài 31 ngày đã so sánh tác động của hồng sâm, bạch sâm, lá sâm ở liều 4,5 g/kg/ngày và tây dương sâm ở liều 3 g/kg/ngày so với nhóm đối chứng dùng nước cất [5]. Kết quả cho thấy sau 31 ngày, nhóm dùng hồng sâm và sâm thông thường xuất hiện tình trạng tăng tiết dịch mắt, giảm tiết nước bọt và giảm lượng nước tiểu [5]. Hiện tượng này có mối liên hệ mật thiết với sự sụt giảm hoạt tính của enzyme Na(+)-K(+)-ATPase tại gan, làm biến đổi quá trình tiêu hao năng lượng và sinh nhiệt của cơ thể [5].
Bằng chứng khoa học về độc tính và mức độ an toàn
Để làm rõ mức độ độc tính khi tiếp xúc lâu dài, Chương trình Độc chất học Quốc gia Hoa Kỳ đã tiến hành đánh giá khả năng gây ung thư và độc tính mạn tính của nhân sâm theo đề cử của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ [4]. Thử nghiệm kéo dài trong thời gian 2 năm trên chuột cống Fischer 344 và chuột nhắt B6C3F1 [4]. Kết quả thu được cho thấy, trong các điều kiện thực nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt, nhân sâm không thể hiện độc tính mạn tính và không có khả năng sinh khối u [4].
Ở khía cạnh sử dụng trên người, bức tranh an toàn của sâm bắt đầu được chú ý sau một nghiên cứu quan sát công bố vào năm 1979 [2]. Nghiên cứu này từng ghi nhận hiện tượng tăng huyết áp cùng các rối loạn tiêu hóa, mất ngủ và lo âu khi người tham gia sử dụng sâm ở liều lượng rất cao, lên đến 15 g mỗi ngày [2]. Tuy nhiên, các nhà khoa học chỉ ra rằng nghiên cứu năm 1979 thiếu nhóm đối chứng, không kiểm soát được thời gian, loại sâm cũng như các chất sinh học dùng kèm như caffeine [2]. Khi liều dùng được điều chỉnh giảm xuống mức 1,7 g mỗi ngày, các triệu chứng bất lợi trở nên rất hiếm gặp [2].
Một phân tích tổng quan có hệ thống vào năm 2002 thực hiện trên 146 thử nghiệm lâm sàng với hơn 8.500 lượt người tiếp xúc với nhân sâm cho thấy hồ sơ tác dụng phụ của sâm không khác biệt đáng kể so với giả dược [2]. Những phản ứng phổ biến nhất được ghi nhận chỉ bao gồm đau đầu nhẹ, buồn nôn, bồn chồn và khó ngủ thoáng qua [2]. Điều này cho thấy sâm dung nạp tương đối tốt nếu được dùng ở phạm vi liều lượng khuyến cáo [2].
Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
Khi đánh giá toàn diện các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, tỷ lệ ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng nhìn chung ở mức thấp nhưng không thể chủ quan [6], [7]. Một tổng quan hệ thống năm 2013 tại Hàn Quốc đã xem xét các nghiên cứu so sánh sâm hoặc hồng sâm với giả dược trên nhiều bệnh lý khác nhau như béo phì, viêm dạ dày mạn tính, khô miệng, hội chứng chuyển hóa và bệnh Alzheimer [6]. Trong số các thử nghiệm được phân tích, có 6 nghiên cứu theo dõi biến cố bất lợi và không có báo cáo nào về phản ứng phụ nghiêm trọng [6]. Có hai thử nghiệm ghi nhận tình trạng khó chịu ở dạ dày và một thử nghiệm ghi nhận triệu chứng táo bón [6]. Đáng chú ý, các triệu chứng bất lợi đa dạng hơn xuất hiện trong một thử nghiệm áp dụng mức liều hồng sâm cao nhất trong nhóm nghiên cứu [6].
Một tổng quan hệ thống khác vào năm 2015 khảo sát 44 nghiên cứu lâm sàng cũng chỉ ra rằng việc báo cáo biến cố bất lợi còn chưa đồng đều, khi có tới 23 nghiên cứu không đề cập đến an toàn và 16 nghiên cứu ghi nhận có tác dụng phụ [7]. Trong một nghiên cứu can thiệp kéo dài 4 tuần với liều 3 g sâm mỗi ngày trên các đối tượng khỏe mạnh người Hàn Quốc và người Trung Quốc nhằm so sánh hồng sâm, bạch sâm và tây dương sâm, tần suất tác dụng phụ không có sự khác biệt ở người Hàn Quốc [7]. Tuy nhiên, ở các đối tượng người Trung Quốc, nghiên cứu ghi nhận sự gia tăng đáng kể của triệu chứng khó chịu ở vùng ngực [7].
Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng lưu ý rằng hiệu quả và khả năng dung nạp của sâm phụ thuộc nhiều vào thể trạng người dùng [1]. Phân tích 19 thử nghiệm lâm sàng dùng đơn độc nhân sâm cho thấy có 9 thử nghiệm cho kết quả âm tính và 10 thử nghiệm cho kết quả dương tính [1]. Trong đó, 7 trên 9 nghiên cứu cho kết quả âm tính được thực hiện trên người hoàn toàn khỏe mạnh, trong khi 8 trên 10 nghiên cứu cho kết quả tích cực lại thực hiện trên những đối tượng có chứng khí hư như bệnh nhân ung thư, liệt dương hoặc bệnh phổi [1]. Người trẻ tuổi khỏe mạnh khi dùng sâm có thể không nhận được nhiều lợi ích mà còn đối mặt với nguy cơ thừa khí [1].
Nguy cơ tim mạch và những trường hợp biến chứng đơn lẻ
Mặc dù sâm thường được quảng bá là hỗ trợ tuần hoàn, các hoạt chất trong sâm có tác động hai chiều rất phức tạp lên hệ tim mạch [8]. Hoạt chất saponin trong nhân sâm có thể mang lại tác động tăng cường co bóp cơ tim, giảm mỡ máu, kháng viêm và kháng khuẩn [8]. Tuy nhiên, trên lâm sàng, việc dùng sâm có thể làm tăng nồng độ lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (LDL) thứ phát sau tác dụng hạ mỡ máu ban đầu [8]. Đồng thời, tình trạng lạm dụng sâm mạn tính có thể gây tăng huyết áp thứ phát qua hội chứng lạm dụng sâm, hoặc đôi khi lại gây hạ huyết áp thất thường [8].
Y văn từng ghi nhận trường hợp bệnh nhân nam có tiền sử đau thắt ngực điển hình nhưng từ chối chụp mạch vành, sau đó tự ý sử dụng liệu pháp nhân sâm không kiểm soát [8]. Bệnh nhân này sau đó phải nhập viện cấp cứu trong tình trạng nhồi máu cơ tim trước lan rộng kèm sốc tim [8]. Ngoài biến cố tim mạch nguy hiểm, các báo cáo ca bệnh riêng lẻ còn ghi nhận nhân sâm châu Á có liên quan đến các tác dụng phụ từ nhẹ đến nghiêm trọng như mất ngủ, tiêu chảy, chảy máu âm đạo, đau tức vú, đau đầu dữ dội, các đợt bùng phát tâm thần phân liệt và thậm chí là hội chứng Stevens-Johnson [2]. Dù tỷ lệ xảy ra các biến cố nặng này được đánh giá là thấp trong quần thể, chúng là lời cảnh báo rõ ràng đối với việc tự ý dùng sâm điều trị bệnh thay thế phác đồ chính quy [2], [8].
Những hiểu lầm phổ biến và sự nhầm lẫn giữa các loài sâm
Một trong những sai lầm lớn nhất của người tiêu dùng là đánh đồng tất cả các loại thảo dược có tên gọi "sâm" với nhau [2]. Trên thực tế, thuật ngữ phức tạp đã tạo ra sự nhầm lẫn giữa nhân sâm châu Á (Panax ginseng có nguồn gốc Triều Tiên, Hàn Quốc hoặc Trung Quốc), tây dương sâm hay sâm Mỹ (Panax quinquefolius) và sâm Siberia hay sâm Nga (Eleutherococcus senticosus) [2]. Hầu hết các báo cáo về tác dụng phụ nghiêm trọng và hội chứng lạm dụng sâm trong y văn đều tập trung chủ yếu vào loài nhân sâm châu Á [2].
Ngoài ra, nhiều người tin rằng sâm dùng cho bất kỳ ai cũng đem lại công dụng bồi bổ sinh lực như nhau [1]. Thực tế lâm sàng cho thấy sâm thể hiện tác dụng rõ rệt nhất trên những người có hội chứng khí hư, biểu hiện qua suy nhược do bệnh tật mạn tính [1]. Việc người trẻ, người có thể trạng khỏe mạnh bình thường nạp sâm liều cao kéo dài không những không làm tăng cường hiệu suất sinh hoạt mà còn dễ dẫn đến tình trạng ứ trệ, biểu hiện qua bứt rứt, mất ngủ hoặc khó chịu lồng ngực [1], [7].
Ai nên thận trọng khi sử dụng nhân sâm?
Từ các bằng chứng khoa học về nguy cơ lạm dụng và tác dụng phụ, một số nhóm đối tượng sau đây cần đặc biệt cẩn trọng trước khi quyết định uống sâm liên tục nhiều tuần:
- Người có bệnh lý tim mạch, tiền sử đau thắt ngực, tăng huyết áp hoặc huyết áp không ổn định: Sâm có thể tác động đến chỉ số huyết áp và làm biến động nồng độ mỡ máu LDL, gây nguy cơ khởi phát các biến cố tim mạch nguy hiểm [8].
- Người hoàn toàn khỏe mạnh hoặc người trẻ tuổi: Những đối tượng này không thuộc nhóm thiếu hụt khí theo quan điểm y học cổ truyền, việc dùng sâm liên tục dễ dẫn đến tình trạng thừa khí, gây bồn chồn, đau đầu và khó ngủ [1].
- Người có cơ địa nhạy cảm, dễ dị ứng hoặc rối loạn đông máu: Một số thành phần của sâm có thể kéo dài thời gian đông máu như ghi nhận trên dịch chiết lá sâm, hoặc liên quan đến phản ứng phát ban, ngứa ngáy [1], [5].
- Bệnh nhân đang chuẩn bị can thiệp y tế hoặc điều trị bệnh mạn tính: Cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị để tránh tương tác bất lợi giữa sâm và các loại thuốc đang sử dụng.
Khuyến cáo sử dụng an toàn: Liều lượng và thời gian hợp lý
Để khai thác lợi ích của sâm mà không vướng phải hội chứng lạm dụng, người dùng cần tuân thủ nghiêm ngặt mức liều được khuyến cáo trong các tài liệu y học [2]. Liều dùng hàng ngày của sâm được khuyến nghị dao động trong khoảng từ 0,5 g đến 2 g mỗi ngày [2]. Tuyệt đối không tự ý dùng các mức liều cao vượt ngưỡng như 3 g hoặc lên tới 15 g mỗi ngày vì nguy cơ phát sinh khó chịu lồng ngực, tăng huyết áp và kích hoạt phản ứng viêm nội sinh [2], [3], [7].
Thời gian sử dụng sâm cũng cần được kiểm soát theo từng đợt ngắn, không nên duy trì liên tục suốt nhiều tháng ròng [3], [5]. Trong quá trình sử dụng, người dùng nên uống vào ban ngày, tránh dùng buổi tối để hạn chế tình trạng mất ngủ, căng thẳng thần kinh [1], [2]. Không nên kết hợp sâm với các chất kích thích thần kinh khác như caffeine để tránh cộng gộp tác dụng làm tăng huyết áp và kích động [2]. Khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu bất thường nào như đánh trống ngực, đầy trướng bụng, tiêu chảy hay phát ban, cần ngừng sử dụng ngay lập tức và đến cơ sở y tế để được kiểm tra [1].
Tóm lại, nhân sâm là một vị thuốc quý nhưng hoàn toàn không phải thực phẩm có thể sử dụng tùy tiện không giới hạn. Uống sâm liên tục nhiều tuần với liều cao có thể biến một thảo dược bồi bổ thành nguồn cơn kích hoạt hội chứng lạm dụng và các phản ứng viêm có hại cho sức khỏe. Người dùng cần lắng nghe cơ thể, sử dụng đúng liều lượng khuyến cáo và tham khảo ý kiến chuyên gia y tế trước khi bắt đầu bất kỳ liệu trình bổ sung dài ngày nào.




