Nhiều người thường nghĩ rằng khô mắt, xốn cộm hay cay rát chỉ đơn thuần xuất phát từ việc ngồi điều hòa cả ngày hoặc dán mắt quá lâu vào màn hình máy tính. Tuy nhiên, không ít người dù đã nhỏ nước mắt nhân tạo liên tục vẫn không thấy thuyên giảm, thậm chí triệu chứng ngày càng nặng hơn vào những đợt công việc quá tải.
Thực tế, căng thẳng tâm lý kéo dài chính là thủ phạm âm thầm làm gián đoạn khả năng tiết nước mắt của cơ thể [1]. Trục thần kinh kết nối não bộ và mắt bị rối loạn khi căng thẳng, trực tiếp làm suy giảm chức năng hoạt động của tuyến lệ [1, 5].
Hệ thần kinh tự chủ bị đảo lộn khi stress dai dẳng
Hệ thần kinh tự chủ gồm hai nhánh đối lập là thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm [2]. Bình thường, hai nhánh này duy trì trạng thái cân bằng để điều hòa các hoạt động vô thức của cơ thể, bao gồm việc kích thích và duy trì sự tiết ẩm tại bề mặt mắt [1, 5].
Khi stress xuất hiện, hệ thống thần kinh giao cảm lập tức bị kích hoạt mạnh mẽ nhằm chuẩn bị cho phản ứng sinh tồn, trong khi hệ thần kinh phó giao cảm bị ức chế [2]. Căng thẳng kéo dài làm sự kích hoạt này trở nên thường trực, khiến nồng độ catecholamine ngoại vi tăng vọt và nồng độ chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine bị suy giảm [2].
Acetylcholine là chất đóng vai trò chống viêm tự nhiên [2]. Khi phân tử này thiếu hụt do phó giao cảm bị đè nén, cơ thể mất đi cơ chế kìm hãm các tín hiệu gây viêm, tạo tiền đề cho những xáo trộn cấu trúc tế bào [2].
Bão viêm và tổn thương tế bào bề mặt mắt
Sự suy giảm acetylcholine do mất cân bằng thần kinh tự chủ dẫn đến việc gia tăng hàng loạt các cytokine tiền viêm như TNF, IL-1, IL-6 và interferon [2]. Báo cáo năm 2025 chỉ ra rằng nồng độ các chất trung gian này kích hoạt quá trình phiên mã gen mã hóa enzym MMP (đặc biệt là MMP-9) và các yếu tố gây chết tế bào theo chương trình [2].
Enzym thủy phân protein MMP-9 giữ vị trí then chốt gây tổn hại hàng rào biểu mô bề mặt nhãn cầu [2]. Chúng làm giảm lớp chất nhầy glycocalyx mucin, gây tổn thương tế bào biểu mô và làm tiêu biến các tế bào đài [2].
Hậu quả là các liên kết gian bào bị phá hủy, khiến tính thấm bề mặt tăng lên và độ thẩm thấu của màng phim nước mắt tăng cao [2]. Màng phim nước mắt mất ổn định sẽ bốc hơi rất nhanh, đẩy mắt vào một vòng xoắn bệnh lý kéo dài [2].
Tuyến lệ chịu tổn hại ra sao dưới góc nhìn thực nghiệm?
Một nghiên cứu mô hình động vật công bố năm 2025 đã làm sáng tỏ đường dẫn truyền gây suy thoái tuyến lệ dưới tác động của stress tâm lý - xã hội [1]. Các nhà nghiên cứu dùng hai mô hình gây stress trên chuột gồm đứng trên bục cao và cố định không gian [1].
Kết quả cho thấy căng thẳng làm gián đoạn chu kỳ phiên mã sinh học bình thường của tuyến lệ ngoài [1]. Cả hai mô hình đều làm giảm thể tích tiết dịch lệ khi bị kích thích, đồng thời ức chế sự dịch chuyển của tế bào miễn dịch và gây lắng đọng lipid bất thường tại mô tuyến lệ [1].
Đáng chú ý, các tổn thương thực thể và tình trạng suy giảm tiết dịch này được cải thiện đáng kể khi được can thiệp bằng thuốc chẹn thụ thể beta-adrenergic hoặc thuốc ức chế tổng hợp glucocorticoid [1]. Phát hiện này chứng minh stress gây tổn thương tuyến lệ thông qua sự phối hợp giữa hệ thần kinh giao cảm và trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận [1].
Bằng chứng lâm sàng về stress và bệnh lý khô mắt
Mối liên hệ giữa gánh nặng tâm lý và khô mắt đã được chứng minh rõ nét trên người. Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2021 được thực hiện trên 312 cư dân cộng đồng (gồm 178 nữ và 134 nam, độ tuổi trung bình 38 ± 21 tuổi) không mắc các bệnh thực thể, mắt hoặc tâm thần nghiêm trọng [3].
Sau khi hiệu chỉnh các biến số tuổi, giới tính, chủng tộc và việc đeo kính áp tròng, kết quả phân tích đa biến cho thấy gánh nặng stress tâm lý tự báo cáo tương quan thuận với nguy cơ mắc bệnh khô mắt, tình trạng thiếu hụt nước mắt dạng nước và rối loạn chức năng tuyến Meibomius (tất cả p <= 0.01) [3]. Ngược lại, người có sức khỏe tự nhận thức tốt hơn giảm hẳn nguy cơ mắc các tình trạng này (p < 0.05) [3].
Một nghiên cứu khác vào năm 2023 trên 25 bệnh nhân khô mắt có thời gian vỡ phim nước mắt ngắn (sBUTDE, 57.4 ± 11.4 tuổi) và 24 bệnh nhân khô mắt do thiếu nước mắt (ADDE, 62.3 ± 10.7 tuổi) đã ghi lại hoạt động thần kinh tự chủ trong 10 phút [4]. Kết quả cho thấy ở nhóm sBUTDE, điểm triệu chứng khó chịu ở mắt có tương quan ý nghĩa với các chỉ số dao động thần kinh phó giao cảm (ccvHF r = 0.55, p = 0.01) và mức stress chủ quan (r = -0.66, p = 0.01), trong khi nhóm ADDE không ghi nhận mối tương quan này [4].
Yếu tố tâm lý khiến triệu chứng khô mắt trầm trọng hơn
Nhiều người có mức độ tổn thương thực thể nhẹ nhưng cảm nhận triệu chứng lại vô cùng dữ dội [6, 7]. Một khảo sát trực tuyến năm 2025 trên 766 người trưởng thành (62.27% nữ, từ 18 đến 88 tuổi) chỉ ra rằng độ nhạy cảm lo âu (anxiety sensitivity) có tương quan thuận rõ rệt với mức độ nghiêm trọng của triệu chứng khô mắt (r = 0.25 - 0.29, p < 0.01) [5].
Phân tích trung gian cho thấy các trạng thái cảm xúc tiêu cực đóng vai trò cầu nối khuếch đại cảm giác khó chịu tại mắt [5]. Những người có tâm lý nhạy cảm với lo âu thường ghi nhận triệu chứng xốn rát thường xuyên và mãnh liệt hơn người bình thường [5].
Nghiên cứu năm 2020 trên 381 người lớn (độ tuổi 20-89, tuổi trung bình 39.72) cũng ghi nhận 22.8% đối tượng báo cáo bề mặt nhãn cầu bị khô, trong đó nữ giới có tỷ lệ xuất hiện triệu chứng từ vừa đến nặng cao hơn [6]. Nét tính cách lo âu đóng góp độc lập vào việc dự đoán độ nặng của triệu chứng mắt khô [6]. Bệnh nhân trầm cảm, lo âu, sang chấn tâm lý hay người có điểm số rối loạn thần kinh cao cũng có xu hướng phàn nàn nhiều hơn về các khó chịu bề mặt nhãn cầu [3, 8].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng
Nhiều người lầm tưởng rằng mắt khô hoàn toàn do tác nhân tại chỗ như gió bụi, thiếu vitamin hay xem điện thoại quá mức. Tuy nhiên, các rối loạn tâm lý - tâm thần và bệnh bề mặt nhãn cầu có mối liên kết hai chiều chặt chẽ [3, 8]. Triệu chứng khô mắt làm giảm chất lượng sống và giấc ngủ, từ đó quay ngược lại tạo thêm căng thẳng tâm lý cho người bệnh [7].
Về mặt dữ liệu, các thử nghiệm can thiệp bằng thuốc chẹn beta hay ức chế glucocorticoid để hồi phục tuyến lệ hiện mới được xác nhận trên mô hình động vật gặm nhấm [1]. Các nghiên cứu trên người đa phần có thiết kế cắt ngang hoặc dùng bảng hỏi tự báo cáo [2, 6, 7]. Do đó, người bệnh không được tự ý sử dụng các thuốc điều trị thần kinh hay tim mạch với mục đích chữa khô mắt.
Những ai cần đặc biệt lưu tâm?
Người làm việc trí óc căng thẳng kéo dài, thường xuyên đối mặt với áp lực công việc và áp lực thời gian [7].
Người có tiền sử rối loạn cảm xúc, trầm cảm, rối loạn lo âu hoặc rối loạn giấc ngủ [3, 8]. Những người có đặc điểm tâm lý nhạy cảm lo âu cao thường cảm nhận đau rát mắt ở mức độ nặng hơn [6, 7].
Phụ nữ, đặc biệt là người trung niên và cao tuổi, nhóm có tỷ lệ phản ánh khô mắt từ trung bình đến nghiêm trọng cao hơn theo thống kê dịch tễ [2, 7].
Bệnh nhân khô mắt kéo dài dùng thuốc nhỏ bôi trơn bề mặt thông thường nhưng không thuyên giảm triệu chứng, cần đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt và có thể cần tầm soát thêm yếu tố tâm lý [3].
Giải pháp cân bằng để phục hồi tuyến lệ
Nhận thức rõ mối liên hệ giữa tâm lý và tuyến lệ giúp chúng ta có cách tiếp cận toàn diện hơn để bảo vệ đôi mắt mỗi ngày:
- Giải tỏa căng thẳng tinh thần: Dành thời gian nghỉ ngơi giữa các khung giờ làm việc căng thẳng nhằm hạ bớt nhịp hoạt động quá mức của hệ giao cảm, khôi phục cân bằng cho hệ thần kinh tự chủ [2].
- Cải thiện chất lượng giấc ngủ: Rối loạn giấc ngủ làm gia tăng độ trầm trọng của khô mắt [7]. Thiết lập thói quen ngủ đúng giờ, tránh các yếu tố gây ức chế thần kinh trước khi ngủ giúp làm dịu bề mặt nhãn cầu [7].
- Khám chuyên khoa kịp thời: Khi có biểu hiện cộm rát, suy giảm thị lực hay mỏi mắt dai dẳng, người bệnh nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa mắt để được đánh giá cấu trúc màng phim nước mắt và can thiệp y khoa phù hợp, tránh tự điều trị [3].
Căng thẳng tâm lý không chỉ ảnh hưởng đến tâm trạng mà còn tác động trực tiếp lên chức năng bài tiết của tuyến lệ thông qua hệ thần kinh tự chủ. Chăm sóc sức khỏe tinh thần song song với việc bảo vệ nhãn cầu chính là chìa khóa duy trì đôi mắt sáng khỏe dài lâu.




