Nhiều người có thói quen dùng các cây thuốc dân gian trị bệnh mà không rõ tương tác dược lý. Cây la (tên khoa học Solanum lyratum Thunb., thuộc họ Cà Solanaceae) là một thảo dược quen thuộc trong y học cổ truyền. Việc tự ý phối hợp dược liệu này với thuốc Tây y, đặc biệt là nhóm thuốc tác động lên hệ thần kinh, tiềm ẩn nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng.
Trả lời thẳng câu hỏi: Cây la CÓ THỂ gây tương tác bất lợi với thuốc ức chế thần kinh, thuốc trị Alzheimer và thuốc gây mê. Tương tác xảy ra do các hợp chất tự nhiên trong cây la có hoạt tính ức chế men acetylcholinesterase, làm tăng lượng acetylcholine và biến đổi tác dụng của thuốc điều trị.
Nguy cơ tiềm ẩn từ thói quen dùng thảo dược họ Cà
Cây la, hay còn gọi là bạch anh, thục dương cổ, mọc hoang và được dùng làm thuốc tại một số vùng. Trong dân gian, cây thường được sắc uống để thanh nhiệt, giải độc hoặc giảm đau nhức. Người bệnh mạn tính thường kết hợp uống thảo dược cùng thuốc kê đơn vì tin rằng cây cỏ lành tính.
Tuy nhiên, các loài thực vật thuộc chi Cà (Solanum) nói riêng và họ Cà (Solanaceae) nói chung chứa nhiều hoạt chất sinh học mạnh. Nhóm hoạt chất này khi vào cơ thể không chỉ tác dụng đơn lẻ mà có thể can thiệp sâu vào chuyển hóa của các thuốc điều trị thần kinh trung ương và ngoại vi.
Cơ chế tác động lên enzyme acetylcholinesterase
Acetylcholine là chất dẫn truyền thần kinh giữ vai trò kiểm soát vận động cơ bắp, nhịp tim và trí nhớ. Enzyme acetylcholinesterase (AChE) làm nhiệm vụ thủy phân phân tử này sau khi tín hiệu thần kinh truyền xong, giúp tế bào trở lại trạng thái nghỉ.
Khi hoạt chất trong thảo dược ức chế AChE, acetylcholine không bị phân hủy và tích tụ nồng độ cao ở khe synapse. Tình trạng thừa chất dẫn truyền thần kinh này dẫn đến tăng kích thích hệ cholinergic. Nếu người bệnh đang dùng thuốc ức chế thần kinh, thuốc làm giãn cơ phẫu thuật hoặc thuốc an thần, sự tích tụ acetylcholine đối kháng hoặc cộng dồn hiệu lực thuốc, gây rối loạn dẫn truyền tim, co thắt phế quản và biến động huyết áp.
Bằng chứng khoa học về hoạt tính ức chế AChE của cây la
Các nghiên cứu hóa học và dược lý hiện đại làm sáng tỏ cơ sở sinh học về hoạt tính của cây la.
Nghiên cứu công bố năm 2022 phân tích thành phần hóa học của cây la (Solanum lyratum Thumb., họ Cà) đã phân lập được 2 lignan mới (1b và 3) cùng 11 dẫn xuất lignan đã biết [1]. Bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (HPLC chiral) và dữ liệu phổ lưỡng sắc tròn điện tử (ECD), các nhà khoa học tách và xác định cấu trúc lập thể của hai cặp đối quang [1]. Đánh giá hoạt tính sinh học cho thấy hai hợp chất (đánh số 4 và 9) có khả năng ức chế enzyme acetylcholinesterase rõ rệt, với chỉ số IC50 lần lượt là 1,30 ± 0,25 µM và 0,89 ± 0,04 µM [1]. Phân tích gắn kết phân tử (molecular docking) khẳng định các hợp chất này gắn kết chặt chẽ vào vị trí hoạt động của enzyme AChE [1].
Chỉ số IC50 càng nhỏ chứng tỏ lực ức chế enzyme càng mạnh. Mức nồng độ vi mô (micromolar) của các hợp chất từ cây la cho thấy tiềm năng can thiệp trực tiếp lên hệ thần kinh cholinergic [1].
Hoạt tính anticholinesterase trong các cây cùng họ Cà
Hoạt tính kháng enzyme cholinesterase không chỉ xuất hiện riêng ở cây la mà phân bố rộng trong các loài họ Cà (Solanaceae) khác.
Nghiên cứu in-silico năm 2022 khảo sát các hợp chất tự nhiên chiết xuất từ lá cà đắng châu Phi (Solanum macrocarpon L.) và thù lù đực/cà đen (Solanum nigrum L.) [2]. Nghiên cứu kiểm tra khả năng ức chế AChE hồng cầu người—một yếu tố trung gian gián tiếp sản sinh cytokine gây viêm [2]. Bằng mô phỏng động lực học phân tử (MD simulation) và docking, các dẫn xuất flavone-luteolin rutinoside (LR) được xác định là chất ức chế gắn kết đơn hoặc kép [2]. Hai hợp chất LR4 và LR5 có chuỗi hexose gắn kết kép chiếm giữ bộ ba xúc tác và vị trí anion ngoại vi của enzyme AChE, cho thấy khả năng can thiệp vào quá trình thoái hóa acetylcholine tương tự donepezil [2].
Ngoài chi Cà, nhiều alkaloid thực vật khác cũng có tác động rõ rệt lên acetylcholinesterase và butyrylcholinesterase. Chẳng hạn, alkaloid từ vỏ cây Holarrhena pubescens ức chế AChE với giá trị IC50 từ 1,44 đến 4,09 µM, so với đối chứng galantamine là 0,51 µM [3]. Nghiên cứu năm 2012 trên hạt Holarrhena antidysenterica ghi nhận cao chiết alkaloid toàn phần ức chế AChE với IC50 đạt 6,1 µg/mL, trong đó hợp chất conessimin có IC50 là 4 µM với cơ chế ức chế cạnh tranh thuận nghịch [4]. Nghiên cứu năm 2007 ghi nhận capsaicin có tỷ lệ ức chế AChE đạt (62,7 ± 0,79)% và BChE đạt (75,3 ± 0,98)% ở nồng độ 1 mg/ml [5]. Các alkaloid steroidal tự nhiên còn được dùng làm tiền chất tổng hợp chất ức chế cholinesterase lai hóa kết hợp cùng tacrine [6].
Rủi ro biến đổi hiệu lực thuốc điều trị và gây mê
Khả năng ức chế AChE của hợp chất trong cây la dẫn đến các nguy cơ tương tác thuốc cụ thể trên lâm sàng:
Thứ nhất, tương tác với thuốc điều trị sa sút trí tuệ Alzheimer (donepezil, rivastigmine, galantamine). Các thuốc này ức chế AChE để duy trì chức năng nhận thức. Dùng cây la đồng thời gây hiệu ứng cộng dồn quá mức, dẫn đến hội chứng cholinergic với các triệu chứng tiêu chảy, nôn mửa, co giật cơ, nhịp tim chậm nguy hiểm [2], [1].
Thứ hai, tương tác trong phẫu thuật và gây mê. Thuốc dãn cơ trong gây mê chia làm hai nhóm khử cực và không khử cực. Việc tích tụ acetylcholine do ức chế men AChE làm mất tác dụng giãn cơ của thuốc không khử cực, hoặc kéo dài thời gian liệt cơ hô hấp của thuốc giãn cơ khử cực (như succinylcholine). Người bệnh có thể gặp tai biến suy hô hấp hoặc hồi tỉnh chậm sau mổ.
Thứ ba, tương tác với các thuốc ức chế thần kinh trung ương và thuốc kháng cholinergic (thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc chống loạn thần). Hoạt chất cây la cạnh tranh thụ thể, triệt tiêu tác dụng an thần, chống co thắt của thuốc kê đơn, khiến bệnh lý nền mất kiểm soát.
Ai nên thận trọng tuyệt đối với cây la?
Người bệnh không tự ý dùng cây la hoặc các chế phẩm thảo dược họ Cà khi thuộc các nhóm sau:
- Người chuẩn bị phẫu thuật: Cần ngừng sử dụng thảo dược ít nhất 2 tuần trước khi gây mê can thiệp ngoại khoa để tránh biến chứng tương tác thuốc giãn cơ và thuốc mê.
- Bệnh nhân Alzheimer và Parkinson: Nhóm này đang điều trị bằng thuốc tác động lên dẫn truyền thần kinh, dùng thêm cây la dễ gây ngộ độc cholinergic.
- Người có bệnh lý tim mạch: Bệnh nhân suy tim, rối loạn nhịp tim chậm, block nhĩ thất cần tránh vì kích thích cholinergic làm giảm nhịp tim sâu.
- Bệnh nhân hen phế quản và COPD: Sự tăng tiết dịch và co thắt phế quản do kích thích thần kinh phó giao cảm làm bùng phát cơn khó thở cấp.
- Người đang dùng thuốc điều trị tâm thần hoặc thuốc an thần: Tránh dùng để không làm xáo trộn nồng độ thuốc trong huyết tương.
Lời khuyên áp dụng an toàn và cân bằng
Sử dụng thảo dược an toàn đòi hỏi tính kỷ luật và sự hiểu biết khoa học:
- Khai báo tiền sử dùng thảo dược: Khi đi khám bệnh, nhập viện phẫu thuật, luôn đem theo mẫu hoặc báo rõ với bác sĩ tên các loại trà thảo mộc, cây thuốc nam đang uống tại nhà.
- Không tự ý kết hợp: Tuyệt đối không sắc chung cây la hay các cây họ Cà với thuốc Tây y. Uống cách xa vài giờ không loại bỏ được tương tác, vì nhiều hợp chất thực vật bán thải chậm trong cơ thể.
- Theo dõi dấu hiệu bất thường: Nếu lỡ dùng thảo dược và xuất hiện triệu chứng nôn nao, vã mồ hôi, co thắt bụng, tim đập chậm, hoa mắt, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất.
- Luôn tham khảo ý kiến chuyên gia: Thảo dược tự nhiên có hoạt tính dược lý mạnh như dược phẩm. Người bệnh cần bác sĩ chuyên khoa hoặc dược sĩ tư vấn trước khi dùng để phòng ngừa rủi ro tương tác thuốc.
Thảo dược họ Cà như cây la chứa các lignan có hoạt tính sinh học ức chế acetylcholinesterase đáng kể [1]. Tác động này làm biến đổi hiệu lực của thuốc gây mê, thuốc điều trị thần kinh và tiềm ẩn tai biến tim mạch hô hấp. Tôn trọng phác đồ y khoa hiện đại và thận trọng trước các bài thuốc dân gian là biện pháp tốt nhất bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh.

