Bối cảnh và thắc mắc thường gặp về cây thuốc giấu

Trong dân gian, cây thuốc giấu (còn có tên gọi khác là hồng tước san hô, tên khoa học Euphorbia tithymaloides hay Pedilanthus tithymaloides) thường được trồng làm cảnh hoặc làm thuốc đắp. Nhiều người bệnh truyền tai nhau kinh nghiệm nhai lá tươi, giã nát vắt nước uống để điều trị dứt điểm bệnh trĩ nội, trĩ ngoại và làm dịu các cơn đau dạ dày mạn tính. Thói quen tự ý thử nghiệm các bài thuốc mọc hoang trong vườn bắt nguồn từ tâm lý e ngại nội soi tiêu hóa hoặc ngại can thiệp ngoại khoa khi mắc các bệnh vùng hậu môn.

Tuy nhiên, việc sử dụng các loài thực vật có mủ trắng đục đưa vào đường tiêu hóa khi chưa được kiểm chứng lâm sàng tiềm ẩn nhiều hệ lụy khôn lường đối với sức khỏe. Phần lớn các ca ngộ độc đường tiêu hóa hay loét trợt niêm mạc khởi phát từ việc nghe theo những lời đồn thổi vô căn cứ trên mạng xã hội.

Các chuyên gia y tế cảnh báo, không có loại cây cỏ nào có thể làm tiêu biến búi trĩ hay chữa lành ổ loét dạ dày trong chốc lát chỉ qua đường uống truyền miệng. Trước khi quyết định đưa bất kỳ loại thảo dược nào vào cơ thể, người bệnh cần nhìn nhận rõ ràng giữa ứng dụng dân gian chưa kiểm soát và dữ liệu nghiên cứu khoa học thực tế.

Trả lời ngắn: Có nên uống cây thuốc giấu chữa trĩ, đau dạ dày?

Câu trả lời dứt khoát là không nên uống hoặc ăn trực tiếp lá và mủ của cây thuốc giấu để điều trị trĩ cũng như đau dạ dày. Hiện tại, y văn thế giới hoàn toàn thiếu vắng các thử nghiệm lâm sàng trên người xác nhận cây thuốc giấu có khả năng co búi trĩ hay bảo vệ niêm mạc dạ dày khi dùng đường uống.

Ngược lại, nhựa mủ từ các loài thực vật thuộc chi Đại kích (Euphorbia) chứa nhiều hợp chất có thể gây độc, gây bỏng rát và kích ứng dữ dội cho toàn bộ ống tiêu hóa. Việc nuốt trực tiếp dịch chiết hoặc nhai sống thảo dược này không những không mang lại lợi ích chữa bệnh mà còn kích hoạt phản ứng viêm cấp tính, làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết tiêu hóa sẵn có.

Người bệnh trĩ và viêm loét dạ dày cần ngừng ngay việc áp dụng các mẹo dân gian truyền miệng nguy hiểm này. Mọi phác đồ can thiệp cần dựa trên chẩn đoán chính xác từ bác sĩ chuyên khoa và tuân thủ các loại thuốc đã được cấp phép lưu hành an toàn.

Hoạt chất và đặc tính chống oxy hóa trong ống nghiệm

Các nghiên cứu sinh hóa hiện đại đã phân tích chi tiết các thành phần chứa trong bộ phận trên mặt đất của loài cây này. Một nghiên cứu công bố năm 2018 tại vùng Kushtia đã tiến hành khảo sát thành phần hóa học và tiềm năng chống oxy hóa trong ống nghiệm của tinh dầu cùng các phân đoạn chiết xuất từ cây Euphorbia tithymaloides L. [1].

Bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS), các nhà khoa học đã phát hiện được 31 hợp chất, đại diện cho 96,37% tổng lượng tinh dầu của cây [1]. Trong đó, thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất là eugenol (22,52%), tiếp theo là phenyl ethyl alcohol (14,63%), 3-pentanol (9,22%), caryophyllene oxide (7,73%), isoeugenol (7,32%), pentadecanol (5,14%), spathulenol (5,11%) và alpha-pinene (3,32%) [1].

Khi thử nghiệm hoạt tính quét gốc tự do trong phòng thí nghiệm, tinh dầu và dịch chiết ethyl acetate cho thấy khả năng dập tắt gốc tự do DPPH với chỉ số IC50 lần lượt là 13,67 và 17,59 microg/mL [1]. Đối với gốc tự do superoxide, giá trị IC50 tương ứng đạt 21,83 và 42,34 microg/mL [1]. Tinh dầu và phân đoạn methanol cũng thể hiện hoạt tính quét gốc nitric oxide đáng kể với IC50 đạt 90,45 và 112,63 microg/mL [1]. Đáng chú ý, phân đoạn chiết xuất methanol chứa hàm lượng phenolic tổng số cao nhất so với các mẫu khảo sát khác [1].

Kết quả thử nghiệm cho thấy dịch chiết và tinh dầu của Euphorbia tithymaloides có tiềm năng đóng vai trò là chất chống oxy hóa tự nhiên ứng dụng trong công nghiệp dược phẩm hoặc mỹ phẩm [1]. Tuy vậy, đây thuần túy là những phản ứng sinh hóa diễn ra trong ống nghiệm vô trùng, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc uống trực tiếp cây tươi vào cơ thể người sẽ tiêu diệt được vi khuẩn dạ dày hay làm co thắt búi trĩ.

Cơ chế cầm máu của mủ cây trong các nghiên cứu tiền lâm sàng

Một trong những lý do khiến dân gian lầm tưởng cây thuốc giấu có thể chữa khỏi bệnh trĩ chảy máu xuất phát từ tác dụng cầm máu vết thương hở ngoài da của mủ cây. Một nghiên cứu công bố năm 2014 đã đánh giá hoạt tính cầm máu từ nhựa mủ của ba loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), bao gồm Euphorbia nivulia Buch.-Ham., Pedilanthus tithymaloides (L.) Poit (tên đồng nghĩa của cây thuốc giấu) và Synadenium grantii Hook F. [2].

Nghiên cứu tập trung phân tích các hoạt tính phân giải protein (protease, gelatinase), khả năng làm đông sữa và thời gian đông máu toàn phần từ phân đoạn enzyme trong nhựa mủ [2]. Đồng thời, các tác giả đã khảo sát khả năng rút ngắn thời gian chảy máu và thời gian đông máu trên các vết thương thực nghiệm mới tạo ở chuột nhắt trắng [2].

Kết quả ghi nhận enzyme protease từ mủ cây Euphorbia nivulia có hoạt tính đông máu rõ rệt nhất, tiếp theo sau là Pedilanthus tithymaloides và Synadenium grantii [2]. Đặc biệt, protease trong mủ thân của Pedilanthus tithymaloides thể hiện hoạt tính thúc đẩy đông máu vượt trội khi thử nghiệm trên các mẫu máu của động vật có vú như dê (Capra hircus), trâu (Bubalus bubalis), bò xạ (Ovibos moschatus) và bò nhà (Bos indicus) [2]. Trong đó, mẫu máu bò nhạy cảm nhất với enzyme protease của mủ cây [2].

Đáng chú ý, protease từ mủ cây thuốc giấu có khả năng rút ngắn đáng kể thời gian đông máu toàn phần trên mẫu máu của người và chuột [2]. Các tác giả kết luận rằng phân đoạn protease trong mủ cây có chứa các thành phần thực vật có khả năng chặn đứng tình trạng chảy máu vết thương và đẩy nhanh quá trình đông máu [2]. Tuy nhiên, hoạt tính cầm máu này chỉ được quan sát khi tiếp xúc tại chỗ trên vết thương hở ngoài da hoặc thử trong mẫu máu biệt lập, không thể suy diễn rằng uống mủ cây sẽ làm lành các mạch máu bị phình giãn, chảy máu sâu trong ống hậu môn của người bệnh trĩ.

Cảnh báo độc tính tiêu hóa từ các loài thực vật cùng chi Đại kích

Một tổng quan khoa học năm 2022 về chi Euphorbia ghi nhận rằng các loài trong chi này được y học cổ truyền nhiều nơi dùng ngoài hoặc sắc uống trị bệnh đường hô hấp, kích ứng da, rối loạn tiêu hóa và đau đớn [3]. Trong họ Euphorbiaceae, 15 loài đã được chứng minh có hoạt tính chống ung thư, 21 loài có hoạt tính kháng khuẩn và 10 loài mang độc tính tế bào (cytotoxic) [3]. Thành phần hóa học chính bao gồm triterpenoid glycoside, diterpenoid, flavonoid và 4alpha-methyl steroid, trong đó các hợp chất có hoạt tính sinh học chủ yếu nằm ở phân đoạn diterpenoid [3].

Chính phân đoạn diterpenoid này là thủ phạm chính gây ra các phản ứng viêm và kích ứng nghiêm trọng khi tiếp xúc với niêm mạc. Nghiên cứu công bố năm 2013 trên loài Euphorbia kansui (một dược liệu truyền thống cùng chi thường dùng gây xổ) đã làm sáng tỏ cơ chế gây hại trên đường tiêu hóa động vật [4]. Chuột nhắt được cho uống dịch chiết cồn 30% của rễ cây với ba mức liều khác nhau gồm 0,3 g/kg; 0,6 g/kg và 1,2 g/kg [4].

Kết quả cho thấy dịch chiết kích thích chuột đi ngoài phân lỏng, ức chế sự co bóp của cơ trơn ruột non và gây rỉ dịch viêm trên niêm mạc ruột của động vật [4]. Phân tích sinh học phân tử xác nhận mức biểu hiện của cả mRNA và nồng độ protein của các cytokine tiền viêm gồm Interleukin-1 beta (IL-1beta) và Tumor Necrosis Factor alpha (TNFalpha) đều tăng vọt ở ruột non hoặc ruột già chuột [4]. Thí nghiệm này chứng minh rõ ràng việc uống dịch chiết từ rễ cây thuộc chi Đại kích tống xuất phân bằng cơ chế kích thích gây viêm cấp tính niêm mạc ruột [4].

Mặc dù có những loài trong chi thể hiện độ an toàn cao ở gan khi thử trên chuột như dịch chiết cồn củ Euphorbia fusiformis với liều 250 mg/kg giúp phục hồi các chỉ số men gan SGOT, SGPT, GGTP, ALP, bilirubin toàn phần khi bị tổn thương do rifampicin và có LD50 đường uống lên tới 10.000 mg/kg ở chuột [5], người tiêu dùng không thể đánh đồng mọi loài cây thuộc họ Đại kích đều lành tính. Sự khác biệt về loài, bộ phận dùng và hàm lượng độc chất diterpenoid khiến việc tự ý nhai nuốt mủ cây thuốc giấu trở thành mối nguy hại trực tiếp đối với dạ dày.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng cây thuốc giấu

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "thảo dược tự nhiên thì không độc". Thực tế, chất mủ trắng sữa của cây thuốc giấu chứa hỗn hợp protease và diterpene có tính chất ăn mòn niêm mạc. Khi nhai lá tươi, cảm giác tê rát bỏng lưỡi, sưng phù họng chính là biểu hiện ngộ độc ban đầu. Khi mủ trôi xuống dạ dày, độc chất không thể làm lành ổ loét mà ngược lại sẽ kích thích tăng tiết acid, bào mòn lớp màng nhầy bảo vệ và khởi phát viêm loét dạ dày thứ phát.

Hiểu lầm thứ hai là đánh đồng khả năng co búi trĩ với tác dụng cầm máu tạm thời. Mủ cây thuốc giấu có thể giúp đông vón protein và rút ngắn thời gian đông máu tại chỗ [2], nhưng bệnh trĩ là bệnh lý suy dãn mạng lưới tĩnh mạch vùng hậu môn - trực tràng kèm theo sự thoái hóa cấu trúc mô liên kết. Uống nước lá thuốc giấu không có cơ chế nào giúp hồi phục van tĩnh mạch hay kéo búi trĩ sa tụt trở lại vào trong. Thậm chí, độc tính kích thích gây tiêu chảy cấp tính giống như cơ chế của các loài Đại kích [4] sẽ làm tăng áp lực tống phân, khiến búi trĩ bị sa nghẹt và chảy máu dữ dội hơn.

Hiểu lầm thứ ba là tin rằng kinh nghiệm truyền tai của một vài cá nhân có giá trị hơn khuyến cáo y khoa. Nhiều người thấy người khác dùng không bị ngộ độc cấp tính thì cho rằng cây an toàn. Tuy nhiên, mức độ độc tính phụ thuộc vào liều lượng, độ tuổi của cây và thể trạng từng cá nhân; tổn thương niêm mạc dạ dày âm thầm tiến triển chỉ được phát hiện khi đã xuất huyết hoặc thủng dạ dày.

Ai cần tuyệt đối tránh xa loại cây này?

Nhóm đối tượng đầu tiên cần tuyệt đối không tiếp xúc đường uống là bệnh nhân đang mắc các bệnh lý đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày - tá tràng, trĩ độ 3, độ 4, trĩ có tắc mạch, viêm đại tràng co thắt hoặc hội chứng ruột kích thích. Hoạt chất kích ứng trong nhựa cây sẽ phá hủy hàng rào bảo vệ niêm mạc ruột, gia tăng phóng thích các chất trung gian gây viêm như IL-1beta và TNFalpha [4], đẩy người bệnh vào đợt viêm cấp nguy hiểm.

Phụ nữ có thai và phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ phải tránh xa cây thuốc giấu. Mặc dù các loài trong chi Đại kích được ghi nhận trong y học cổ truyền một số nơi [3], chưa từng có bất kỳ dữ liệu an toàn nào về việc dùng cây này trên phụ nữ mang thai. Nguy cơ co bóp tử cung, sẩy thai hoặc độc chất bài tiết qua sữa mẹ là hoàn toàn có thể xảy ra.

Trẻ nhỏ và người cao tuổi có hệ tiêu hóa yếu, chức năng khử độc của gan thận suy giảm tuyệt đối không được thử nghiệm uống loại lá này. Ngay cả khi tiếp xúc ngoài da, những người có cơ địa dị ứng, viêm da cơ địa cũng cần cẩn trọng vì mủ cây có thể gây viêm da tiếp xúc phồng rộp, nếu vô tình để mủ bắn vào mắt có thể gây tổn thương giác mạc nghiêm trọng.

Cách tiếp cận đúng đắn và lời khuyên y khoa

Khi gặp các triệu chứng của bệnh trĩ như đại tiện ra máu đỏ tươi, đau rát hậu môn, sa búi trĩ, hoặc các triệu chứng của bệnh dạ dày như ợ chua, đau tức thượng vị, buồn nôn, việc đầu tiên người bệnh cần làm là đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám. Bác sĩ sẽ thực hiện nội soi tiêu hóa để chẩn đoán chính xác mức độ tổn thương, tầm soát nguy cơ ung thư tiêu hóa thay vì chỉ phỏng đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng.

Các biện pháp can thiệp đã được khoa học chứng minh hiệu quả cho bệnh trĩ bao gồm: duy trì chế độ ăn giàu chất xơ từ rau củ quả an toàn, uống đủ nước mỗi ngày để chống táo bón, ngâm hậu môn bằng nước ấm sạch, sử dụng các nhóm thuốc tăng cường trương lực tĩnh mạch hoặc can thiệp thủ thuật (thắt dây cao su, phẫu thuật) khi có chỉ định chuyên môn. Đối với bệnh đau dạ dày, người bệnh cần tuân thủ phác đồ tiệt trừ vi khuẩn Helicobacter pylori (nếu có), sử dụng thuốc ức chế tiết acid dạ dày theo chỉ định và tránh xa rượu bia, chất cay nóng.

Mọi kiến thức về thảo dược cần được nhìn nhận một cách khoa học và khách quan. Nhựa mủ cây thuốc giấu có thể tiếp tục được nghiên cứu phân lập các phân đoạn protease ứng dụng cầm máu tại chỗ trong y dược [2], nhưng tuyệt đối không phải là thức uống trị bệnh trĩ hay thần dược cứu rỗi dạ dày như những lời đồn thổi thất thiệt.