Nhiều người tìm mua xạ đen để hỗ trợ sức khỏe nhưng lại nhận về xạ vàng do hình thái khô khá tương đồng. Sự nhầm lẫn giữa hai loại thảo dược này trên thị trường dược liệu diễn ra phổ biến nhiều năm qua. Việc phân biệt rõ ràng giữa hai loài cây giúp người dùng chọn đúng sản phẩm, bảo vệ an toàn sức khỏe.

Về bản chất thực vật học, xạ đen là loài Celastrus hindsii thuộc họ Dây gối (Celastraceae), trong khi xạ vàng là tên dân gian dùng để chỉ một số loài khác cùng chi Celastrus. Dù chung chi thực vật, đặc tính phân tử, thành phần hoạt chất và hướng tác dụng dược lý của mỗi loài có sự khác biệt rõ rệt.

Nguồn gốc phân loại và đặc điểm nhận dạng thực vật

Cả xạ đen và các loài cây mang tên xạ vàng đều thuộc chi Celastrus, họ Dây gối (Celastraceae) [1]. Nghiên cứu phân tích phân tử năm 2017 chỉ ra rằng các loài thuộc chi Celastrus được phân chia thành ba nhánh chính dựa trên đặc điểm quả và hạt thay vì cụm hoa [1]. Trong tự nhiên, xạ đen (Celastrus hindsii) phân bố tự nhiên tại miền Nam Trung Quốc, Myanmar, Malaysia và các tỉnh phía Bắc Việt Nam như Hà Nam, Hòa Bình, Quảng Ninh, Ninh Bình [2].

Ở trạng thái tươi, xạ đen có lá non ánh tím hoặc xanh đậm, phiến lá dày, mép có răng cưa nông, thân dây leo gỗ chuyển màu nâu sẫm khi già. Ngược lại, cây thường gọi là xạ vàng (thường thuộc các loài như Celastrus orbiculatus, Celastrus monospermus) có lá mỏng hơn, màu xanh sáng hoặc ngả vàng nhạt, mép lá răng cưa tròn đều hơn. Khi phơi khô, lá xạ đen giòn, vụn có màu đen nhạt hoặc nâu đen, nước sắc có sắc nâu đỏ đậm. Thân và lá xạ vàng khô thường giữ màu vàng nhạt hoặc xám sáng, nước sắc nhạt màu hơn đáng kể.

Hoạt chất đặc trưng tìm thấy trong cây xạ đen

Các công trình nghiên cứu hiện đại đã phân lập nhiều nhóm chất giá trị từ lá và thân cây xạ đen (Celastrus hindsii). Năm 1995, nghiên cứu hóa thực vật đã tách chiết thành công hợp chất sesquiterpene pyridine alkaloid mới đặt tên là celahinine A, cùng các dẫn xuất polyester celahin A và hợp chất có độc tính tế bào emarginatine A từ loài cây này [3].

Đến năm 2014, một nghiên cứu hóa học khác đã phát hiện ba hợp chất diphenylpropane mới mang tên Hindsiipropane A-C cùng một arylpropyl quinone có tên Griffithane D từ Celastrus hindsii [4]. Tiếp tục vào năm 2019, nghiên cứu chiết phân đoạn bằng dung môi clorofom và metanol (50-70%) đã ghi nhận hàm lượng phenolics, flavonoids cao cùng khả năng dọn gốc tự do DPPH, ABTS và ức chế peroxy hóa lipid [2]. Các hợp chất chiếm hàm lượng lớn gồm alpha-amyrin, beta-amyrin, hydrazine carboxamide, axit hexadecanoic, fucosterol, rutin và dẫn xuất phenol [2].

Thành phần hóa học của các loài mang tên xạ vàng

Dưới tên gọi xạ vàng, các loài thuộc chi Celastrus như Celastrus orbiculatus hay Celastrus monospermus sở hữu cấu trúc hoạt chất riêng biệt. Năm 2014, nghiên cứu trên lá của loài Celastrus orbiculatus ghi nhận phân đoạn có hoạt tính hạ đường huyết chứa bảy hợp chất flavonoid gồm kaempferol, quercetin, kaempferol-7-O-alpha-L-rhamnoside, kaempferol-3,7-di-O-alpha-L-rhamnoside, quercetin-3-O-beta-D-glucoside, myricetrin và kaempferol-3-O-rutinoside [5].

Ở rễ của Celastrus orbiculatus, nghiên cứu năm 2013 phân lập được chín chất gồm sugiol, friedelane-3-one, salapermic acid, 28-hydroxyfriedelane-3-one, pristimerin, celastrol, beta-sitosterol, beta-daucosterol và axit benzoic [6]. Với loài Celastrus monospermus, nghiên cứu năm 2018 tách chiết được 26 hợp chất triterpenoid friedelane từ phần thân tan trong dầu, chứng minh tính đa dạng hóa thực vật phong phú của chi này [7]. Ngoài ra, lá cây Celastrus gemmatus cũng cho thấy sự hiện diện của các hợp chất lignan và flavonoid đặc thù như astragalin, apigenin dẫn xuất [8].

Bằng chứng dược lý: Dữ liệu thực tế đến đâu?

Trong y học cổ truyền, các cây thuộc chi Celastrus được dùng để xử lý sốt, ớn lạnh, đau khớp, các tình trạng liên quan đến tự miễn và viêm nhiễm [1]. Riêng xạ đen (Celastrus hindsii) trong dân gian thường dùng trị viêm, phòng chống khối u và dịch hại nông nghiệp [2]. Về mặt thực nghiệm, các chất Hindsiipropane A-C và Griffithane D từ xạ đen đã được thử nghiệm độc tính tế bào in vitro trên bốn dòng tế bào ung thư người (A549, HCT116, MDA-MB-231, BEL7404) bằng phương pháp MTT [4].

Tuy vậy, các bằng chứng hiện có về khả năng chống khối u của xạ đen hay hạ đường huyết của lá Celastrus orbiculatus mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm trên tế bào nuôi cấy hoặc phân đoạn dịch chiết hóa học [1, 8]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên người bệnh để xác định hiệu lực điều trị bệnh lý ác tính hay tiểu đường trên người. Do đó, người dùng không thể coi dịch sắc các loài cây này là thuốc chữa bệnh thay thế y học hiện đại.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng xạ vàng và xạ đen

Sai lầm phổ biến nhất là đánh đồng mọi cây thuộc họ Dây gối đều có công năng như nhau. Dù cùng chi Celastrus, mỗi loài tích lũy các nhóm chất chuyển hóa thứ cấp khác biệt, như triterpene friedelane ở C. monospermus [7], flavonoid hạ đường huyết ở C. orbiculatus [5] hay sesquiterpene pyridine alkaloid ở C. hindsii [3].

Hiểu lầm thứ hai là quan niệm xạ vàng độc hại còn xạ đen trị bách bệnh. Thực tế, các nghiên cứu hóa học cho thấy các loài thuộc chi Celastrus đều chứa nhiều chất chống oxy hóa tự nhiên hữu ích [1, 6]. Ngược lại, xạ đen không phải vị thuốc chữa dứt điểm ung thư như những lời đồn thổi truyền miệng vô căn cứ.

Những ai cần thận trọng khi sử dụng?

Người có bệnh lý nền về gan, thận hoặc đang điều trị bệnh mạn tính bằng thuốc tây cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng nước sắc họ Dây gối. Chi Celastrus chứa các hoạt chất có hoạt tính sinh học mạnh như alkaloid hoặc triterpene có thể tương tác với quá trình chuyển hóa thuốc [3].

Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ tuyệt đối không tự ý sử dụng các thảo dược này. Bằng chứng an toàn trên các đối tượng nhạy cảm này chưa từng được thiết lập trong bất kỳ nghiên cứu độc tính sinh sản lâm sàng nào.

Gợi ý lựa chọn và áp dụng an toàn thực tế

Để tránh mua nhầm, người tiêu dùng nên chọn mua thảo dược tại các cơ sở đông dược có nguồn gốc rõ ràng, đã qua kiểm định thực vật học thay vì mua trôi nổi theo bao tải khô không nhãn mác. Khi kiểm tra dược liệu khô, cần lưu ý mùi thơm đặc trưng, màu sắc thân lá và độ trong cũng như sắc độ của nước hãm.

Khi sử dụng với mục đích hỗ trợ sức khỏe thường thức, chỉ nên dùng với lượng vừa phải dạng hãm nước sôi uống trong ngày. Không nên tự ý sắc đặc uống liên tục dài ngày hoặc phối hợp bừa bãi nhiều loại cây cỏ lạ với nhau. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường về tiêu hóa hay mệt mỏi, cần ngưng dùng ngay lập tức và đến cơ sở y tế.

Chi Celastrus là nguồn thực vật phong phú với nhiều hoạt chất tiềm năng đã được khoa học ghi nhận. Việc nhận diện đúng xạ đen và xạ vàng giúp đảm bảo sử dụng an toàn, đúng mục đích và tránh các rủi ro không đáng có.