Thói quen dùng thảo dược trị bệnh và nỗi lo đường tiêu hóa

Nhiều người dân khi mắc các chứng bệnh mạn tính thường tìm đến các bài thuốc dân gian từ cây mỏ quạ dạng sắc nước uống mỗi ngày. Thói quen sử dụng kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng xuất phát từ suy nghĩ cây cỏ tự nhiên thì hoàn toàn vô hại và uống càng nhiều càng tốt.

Tuy nhiên, việc dùng mỏ quạ sắc uống liên tục mà không có sự kiểm soát về liều lượng đang dẫn đến nhiều hệ lụy cho dạ dày. Không ít người sau thời gian uống nước sắc thảo dược này đã gặp phải cảm giác cồn cào, xót ruột, thậm chí đau âm ỉ vùng thượng vị.

Liệu có nên dùng cây mỏ quạ dài ngày hay không và những nguy cơ tiềm ẩn nào đang đe dọa hệ tiêu hóa của người sử dụng?

Có nên dùng cây mỏ quạ sắc uống dài ngày?

Câu trả lời ngắn gọn là không nên tự ý dùng cây mỏ quạ sắc uống dài ngày mà chưa có chỉ định hoặc kiểm soát liều lượng từ bác sĩ y học cổ truyền. Việc nạp vào cơ thể nước sắc đậm đặc trong thời gian dài khiến niêm mạc đường tiêu hóa phải tiếp xúc liên tục với các hoạt chất tự nhiên chưa tinh chế.

Cây mỏ quạ chứa nhiều nhóm hoạt chất sinh học thực vật phức tạp, bao gồm các hợp chất phenolic, flavonoid và các chất chuyển hóa tự nhiên khác [1]. Khi sắc uống theo cách thủ công, người dùng không thể định lượng được nồng độ hoạt chất thực tế đưa vào cơ thể. Sự tích tụ các chất kích ứng tại dạ dày qua từng ngày chính là nguyên nhân dẫn đến các phản ứng khó chịu của cơ thể.

Cơ chế tác động gây cồn cào niêm mạc dạ dày

Nguyên nhân gây cồn cào, khó chịu đường tiêu hóa khi uống nước sắc mỏ quạ xuất phát từ đặc tính kích ứng của các nhóm hợp chất thực vật chưa qua tinh chế. Các nghiên cứu tổng quan cho thấy chi Maclura rất giàu các nhóm hợp chất phenolic và flavonoid [1]. Đây là các chất có hoạt tính sinh học mạnh nhưng cũng có thể tác động trực tiếp lên bề mặt tế bào biểu mô.

Cụ thể, chiết xuất thô từ thảo dược chứa hàm lượng polyphenol và các chất chuyển hóa tự nhiên có khả năng tương tác với lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc. Khi sử dụng dài ngày, nồng độ hoạt chất tích tụ gây kích ứng cơ học và hóa học tại chỗ, dẫn tới tình trạng xót ruột, cồn cào dạ dày khi bụng rỗng.

Bên cạnh đó, dịch chiết của cây mỏ quạ được chứng minh là có chứa các hoạt chất có khả năng ức chế hệ thống trao đổi ion của màng tế bào. Một nghiên cứu trên tế bào cơ trơn động mạch cho thấy các hợp chất xanthone chiết xuất từ rễ cây mỏ quạ có hoạt tính ức chế mạnh hệ thống trao đổi Na+/H+ qua màng [2]. Việc can thiệp vào hoạt động trao đổi ion này ở mức độ tế bào có thể làm thay đổi tính thấm và chức năng sinh lý bình thường nếu tiếp xúc nồng độ cao trong thời gian dài.

Nghiên cứu nói gì về thành phần và độc tính của cây mỏ quạ?

Cây mỏ quạ, có tên khoa học là Maclura cochinchinensis (hoặc Cudrania cochinchinensis), thuộc họ Dâu tằm (Moraceae) [3, 5, 7]. Các tài liệu khoa học hiện đại đã ghi nhận nhiều dữ liệu phân tích hóa học và độc tính in vitro trên mẫu tế bào:

Thứ nhất, nghiên cứu phân tích thành phần hóa thực vật thu thập mẫu lá cây mỏ quạ tại tỉnh Hòa Bình, Việt Nam năm 2019 đã phân lập được các hợp chất prenylisoflavone mới cùng nhiều dẫn xuất phenolic [3]. Nghiên cứu tiến hành đánh giá độc tính tế bào in vitro trên hai dòng tế bào ung thư KB và HepG2, ghi nhận hợp chất số 4 có hoạt tính gây độc tế bào với nồng độ ức chế 50% (IC50) lần lượt là 26,99 và 19,95 muM [3]. Kết quả này chứng minh một số hoạt chất trong lá mỏ quạ có hoạt tính sinh học mạnh, có khả năng gây độc tế bào ở nồng độ vi mô nhất định.

Thứ hai, một nghiên cứu thực hiện năm 2000 về hoạt tính kháng virus của cây mỏ quạ đã tiến hành chiết tách sinh học phân đoạn từ cây [4]. Trong thử nghiệm nuôi cấy tế bào, phân đoạn chiết bằng chloroform thể hiện độc tính quá cao đối với môi trường tế bào nuôi cấy khiến nhóm nghiên cứu không thể tiến hành thử nghiệm tiếp trên phân đoạn này [4]. Nghiên cứu cũng phân lập được chất morin từ phân đoạn ethyl acetate với hoạt tính kháng virus HSV-2 ở giá trị EC50 là 53,5 micrograms/ml [4].

Thứ ba, một nghiên cứu năm 2017 phát triển quy trình định lượng morin trong lõi gỗ cây mỏ quạ thu thập tại Thái Lan bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [5]. Kết quả cho thấy hàm lượng morin dao động từ 0,74% đến 1,57% tính theo trọng lượng khô [5]. Nghiên cứu khẳng định nồng độ hoạt chất thay đổi đáng kể tùy theo mẫu và việc kiểm chuẩn hàm lượng là điều kiện bắt buộc trước khi đưa vào ứng dụng dược học [5].

Thứ tư, nghiên cứu năm 1997 tại Indonesia phân lập được các chất ức chế hệ trao đổi Na+/H+ từ rễ mỏ quạ, gồm euchrenone b10 và 1,3,5-trihydroxy-4-(3-methylbut-2-enyl)xanthen-9-one với nồng độ ức chế tối thiểu lần lượt là 1,25 và 10 micrograms/ml, cùng 3 hợp chất prenylated xanthone mới [2].

Nhìn chung, các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở quy mô tế bào in vitro hoặc phân tích thành phần hóa học trong phòng thí nghiệm. Hiện tại, chưa có thử nghiệm lâm sàng dài hạn trên cơ thể người để xác định độ an toàn khi uống nước sắc mỏ quạ mỗi ngày.

Dấu hiệu nhận biết kích ứng đường tiêu hóa khi dùng mỏ quạ

Khi sử dụng nước sắc cây mỏ quạ kéo dài mà cơ thể bắt đầu xuất hiện phản ứng không dung nạp, người bệnh cần đặc biệt chú ý các biểu hiện kích ứng sớm sau:

Cảm giác cồn cào và nóng rát ở vùng thượng vị là dấu hiệu phổ biến nhất. Hiện tượng này thường xuất hiện rõ rệt sau khi uống thuốc từ 30 đến 60 phút, hoặc cảm nhận rõ rệt nhất vào lúc đói bụng, khi dạ dày không có thức ăn để trung hòa hoạt chất.

Buồn nôn nhẹ, ợ chua hoặc đầy trướng bụng, khó tiêu sau khi dùng nước sắc. Một số trường hợp có thể gặp phải tình trạng đi ngoài phân lỏng, đau quặn bụng từng cơn do niêm mạc ruột bị kích thích tăng co bóp tống xuất dịch thuốc.

Nếu các triệu chứng này lặp đi lặp lại sau mỗi lần uống, người dùng cần ngưng sử dụng ngay lập tức vì đây là bằng chứng cho thấy niêm mạc dạ dày đang bị kích ứng trực tiếp bởi các thành phần tanin, flavonoid hoặc dịch chiết thô của dược liệu.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng cây mỏ quạ

Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng "thảo dược uống bao nhiêu cũng được, không bổ ngang thì bổ dọc". Thực tế, bất kỳ loài thực vật nào có hoạt tính sinh học điều trị thì cũng mang nguy cơ gây độc tính nếu dùng quá liều hoặc dùng kéo dài. Việc phân đoạn chloroform của mỏ quạ gây độc tế bào trong thử nghiệm nuôi cấy là lời cảnh báo về việc các chất thô chưa tinh sạch có thể gây hại tế bào [4].

Hiểu lầm thứ hai là quan niệm "sắc càng đặc thì tác dụng càng nhanh". Việc tăng lượng cành lá mỏ quạ khi đun sắc sẽ làm tăng nồng độ các chất phenolic và tanin kích ứng niêm mạc, làm tăng đột biến nguy cơ viêm loét dạ dày nhưng không hề tăng thêm hiệu quả chữa bệnh [6, 8].

Hiểu lầm thứ ba là nhầm lẫn giữa kết quả nghiên cứu trong ống nghiệm với hiệu quả điều trị thực tế trên người. Các dữ liệu về khả năng kháng khuẩn, chống viêm hay ức chế tế bào mới chỉ được thử nghiệm trên đĩa nuôi cấy hoặc động vật, chưa đủ căn cứ để tự ý dùng thay thế thuốc y học hiện đại [6, 7].

Những ai nên thận trọng hoặc tránh sử dụng cây mỏ quạ?

Cây mỏ quạ chưa có đầy đủ hồ sơ độc tính học lâm sàng trên người, do đó một số nhóm đối tượng bắt buộc phải thận trọng:

Người có tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng hoặc trào ngược dạ dày thực quản không nên uống nước sắc thô của mỏ quạ, vì nguy cơ làm trầm trọng thêm các tổn thương trợt niêm mạc sẵn có.

Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú tuyệt đối không tự ý dùng dược liệu này. Hiện chưa có bất kỳ nghiên cứu khoa học nào chứng minh độ an toàn của cây mỏ quạ trên phụ nữ mang thai hoặc sự bài tiết của hoạt chất qua sữa mẹ.

Trẻ nhỏ và người cao tuổi có hệ tiêu hóa yếu, chức năng chuyển hóa gan thận suy giảm cần tránh sử dụng dài ngày để không làm tăng gánh nặng đào thải cho cơ thể.

Người đang dùng các thuốc điều trị bệnh mạn tính khác cần tham khảo ý kiến bác sĩ, bởi các hợp chất trong mỏ quạ có thể gây ức chế men hoặc cản trở hấp thu các dược chất khác qua thành ruột.

Hướng dẫn áp dụng thực tế và lời khuyên an toàn

Để bảo vệ sức khỏe hệ tiêu hóa khi có ý định sử dụng cây mỏ quạ, người dân cần tuân thủ các nguyên tắc thận trọng sau:

Tham vấn bác sĩ hoặc thầy thuốc có chuyên môn trước khi bắt đầu. Không tự ý thu hái, phơi khô và đun sắc cây cỏ không rõ nguồn gốc hoặc chưa được thẩm định đúng chủng loại thực vật [5].

Chỉ sử dụng thảo dược theo từng đợt ngắn ngày nếu có chỉ định, không uống thay nước lọc từ tháng này qua tháng khác. Nước sắc thảo dược cần uống sau bữa ăn khi bụng no để giảm thiểu kích ứng cơ học lên niêm mạc dạ dày.

Khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu cồn cào, buồn nôn, đau bụng hay khó tiêu, cần dừng uống ngay lập tức và theo dõi triệu chứng. Nếu biểu hiện kích ứng không thuyên giảm, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được thăm khám và nội soi tiêu hóa kịp thời. Việc kết hợp ăn uống lành mạnh, uống đủ nước và tuân thủ phác đồ chuẩn y khoa luôn là giải pháp an toàn hàng đầu cho sức khỏe.