Lời đồn dân gian về vỏ cây gỗ mun

Trong dân gian, nhiều bài thuốc truyền miệng thường nhắc đến việc dùng vỏ thân hoặc các bộ phận của cây thuộc chi thị, gỗ mun (Diospyros) ngâm rượu, nấu nước tắm để trị mẩn ngứa, nấm da hay viêm nhiễm ngoài da. Nhiều người tin rằng đặc tính gỗ quý, rắn chắc gắn liền với khả năng kháng độc và diệt khuẩn cực mạnh.

Tuy nhiên, việc tự ý bào chế thảo dược này tại nhà tiềm ẩn nhiều rủi ro. Khoa học hiện đại đã ghi nhận nhiều dữ liệu đáng chú ý về hoạt tính sinh học từ vỏ các loài cây thuộc chi Diospyros, nhưng liệu các bằng chứng trong phòng thí nghiệm có đồng nghĩa với việc chúng ta có thể dùng gỗ mun làm thuốc bôi da hàng ngày?

Thực nghiệm: Chiết xuất vỏ mun ức chế nấm và vi khuẩn ra sao?

Nhiều phân loài của chi Diospyros (chi thị, mun) đã được các nhà khoa học đưa vào ống nghiệm để đánh giá tác dụng ức chế vi sinh vật gây bệnh. Các kết quả ban đầu cho thấy khả năng kháng khuẩn và nấm tương đối rộng [1].

Cụ thể, một nghiên cứu năm 2007 thử nghiệm hoạt tính kháng nấm trong ống nghiệm của chiết xuất vỏ thân loài Diospyros crassiflora dung môi methanol/dichloromethane (1:1) và hợp chất plumbagin tinh chế [2]. Đối tượng khảo nghiệm gồm 12 chủng nấm men gây bệnh và nấm sợi: Candida albicans, Candida glabrata, Candida krusei, Candida tropicalis, Cryptococcus neoformans, Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Alternaria sp., Cladosporium sp., Geotrichum candidum, Fusarium sp. và Penicillium sp. [2]. Kết quả cho thấy toàn bộ các chủng nấm thử nghiệm đều bị ức chế bởi chiết xuất thô và hoạt chất plumbagin [2].

Đường kính vòng kháng nấm của chiết xuất thô dao động từ 12 đến 18 mm, trong khi plumbagin đạt từ 21 đến 35 mm [2]. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của chiết xuất thô nằm trong khoảng 12,5 đến 25 mg/mL, còn đối với plumbagin là 0,78 đến 3,12 microg/mL [2]. So với ketoconazole dùng làm đối chứng, plumbagin cho thấy tiềm năng kháng nấm nổi bật [2].

Năm 2011, nghiên cứu trên vỏ thân Diospyros canaliculata cũng khảo sát hoạt tính kháng nấm bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch và pha loãng [3]. Kết quả phân lập được plumbagin cùng hai triterpen ngũ vòng là lupeol và lupenone [3]. Đường kính vòng ức chế của chiết xuất vỏ thân đạt 16,51 đến 24,86 mm, còn của plumbagin là 20,50 đến 25,10 mm [3]. Giá trị MIC của chiết xuất thô đạt 12,5 đến 25 microg/mL, còn hoạt chất plumbagin đạt nồng độ ức chế từ 0,78 đến 1,56 microg/mL [3].

Tác động kháng khuẩn và chống viêm trong phòng thí nghiệm

Không chỉ kháng nấm, các nghiên cứu còn ghi nhận hoạt tính chống lại nhiều chủng vi khuẩn thường gặp trên da và đường hô hấp.

Nghiên cứu năm 2013 kiểm tra các dịch chiết từ vỏ thân loài Diospyros bipindensis [4]. Kết quả cho thấy dịch chiết nước có hoạt tính kháng vi khuẩn Streptococcus pneumoniae với MIC 300 microg/mL và Streptococcus pyogenes với MIC 300 microg/mL [4]. Dịch chiết dichloromethane thể hiện hoạt tính mạnh mẽ hơn khi ức chế S. pneumoniae (MIC 200 microg/mL), Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng, tác nhân viêm da phổ biến) ở mức MIC 400 microg/mL, và S. pyogenes ở mức MIC 200 microg/mL [4].

Dịch chiết dichloromethane này cũng ức chế hoạt động phiên mã của yếu tố gây viêm NF-kappaB và giảm sản sinh oxit nitric (NO) [4]. Hai hợp chất plumbagin và ismailin được xác định đóng vai trò chủ chốt trong các hoạt tính sinh học này [4]. Một nghiên cứu khác cùng năm cũng xác định chiết xuất vỏ thân Diospyros bipindensis chứa plumbagin có hoạt tính kháng nấm Candida albicans qua thử nghiệm sắc ký sinh học [5].

Tại nghiên cứu năm 2022 trên loài Diospyros malabarica, các bộ phận rễ, lá, vỏ, thân, quả chín và quả xanh được chiết xuất qua nhiều dung môi phân cực khác nhau [6]. Dịch chiết vỏ cây bằng dung môi methanol cho hiệu suất thu hồi cao nhất đạt 18,3%, hàm lượng phenolic tổng đạt 602 +- 0,001 microg EAG/mg dịch chiết và flavonoid tổng đạt 455 +- 0,6 microg EQ/mg dịch chiết [6]. Dịch chiết methanol vỏ cây thể hiện vòng kháng khuẩn 30,25 +- 0,9 mm, kháng nấm 18,25 +- 0,2 mm, ức chế tế bào ung thư 48%, chống đái tháo đường 68% và chống viêm 62% trong điều kiện ống nghiệm [6].

Ngoài ra, nghiên cứu năm 1996 trên cây Diospyros mespiliformis cho thấy dịch chiết thô từ lá, vỏ thân và rễ có phổ kháng khuẩn rộng trên 9 chủng vi khuẩn Gram dương, 8 chủng Gram âm và 6 chủng nấm [1]. Đặc biệt, một số chủng Staphylococcus aureus kháng tetracycline và Pseudomonas aeruginosa kháng gentamicin nhạy cảm với các dịch chiết thử nghiệm [1]. Dịch chiết chloroform từ rễ thể hiện hoạt tính mạnh nhất [1].

Dữ liệu an toàn trên động vật thực nghiệm

Các thử nghiệm độc tính đường uống trên mô hình chuột đã cung cấp những dữ liệu sơ bộ về độ an toàn của chiết xuất vỏ cây Diospyros.

Nghiên cứu độc tính cấp năm 2011 trên chuột nhắt trắng dùng dịch chiết methanol vỏ thân Diospyros canaliculata qua đường uống cho thấy dịch chiết này không gây độc [3].

Năm 2020, nghiên cứu độc tính cấp và bán trường diễn trên chuột cống Wistar sử dụng chiết xuất methanol thô lá và vỏ cây Diospyros mespiliformis ghi nhận liều gây chết một nửa (LD50) đường uống lớn hơn 5 g/kg thể trọng [7]. Toàn bộ chuột uống liều 5 g/kg đều bình tĩnh, tỉnh táo, tiếp tục ăn sau 3 giờ điều trị và không có cá thể nào tử vong [7].

Ở thử nghiệm bán trường diễn với phân đoạn ethyl acetate từ vỏ Diospyros mespiliformis, chuột được cho dùng liều 250, 500 và 750 mg/kg có trọng lượng cơ thể tăng tương ứng là 23%, 14% và 15% [7]. Xét nghiệm huyết học cho thấy số lượng bạch cầu (WBC), tế bào lympho, bạch cầu đơn nhân và bạch cầu hạt giảm phụ thuộc vào liều dùng [7]. Một số chỉ số khác như số lượng hồng cầu (RBC) và thể tích trung bình hồng cầu (MCV) có sự biến đổi tăng giảm không đều nhưng không có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng dùng nước cất [7].

Khoảng cách từ ống nghiệm đến thuốc bôi da cho người

Mặc dù các dữ liệu kháng nấm Candida hay ức chế tụ cầu khuẩn S. aureus rất khả quan, chúng ta cần nhìn nhận khách quan về giới hạn nghiên cứu:

Tất cả các thử nghiệm kháng khuẩn, kháng nấm của chiết xuất gỗ mun hiện mới dừng lại ở mô hình nuôi cấy trong ống nghiệm (in vitro) [2], [4], [6], [3]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành trên cơ thể người để xác định hiệu quả chữa viêm da, chàm hay vảy nến.

Đồng thời, độc tính mới chỉ được theo dõi trên chuột qua đường tiêu hóa [3], [7]. Tác động của dịch chiết lên hàng rào biểu bì người, nguy cơ gây viêm da tiếp xúc kích ứng hoặc dị ứng chưa được khảo sát đầy đủ. Hợp chất plumbagin thể hiện hoạt tính độc tế bào thực vật mạnh tương đương chất diệt cỏ paraquat ở nồng độ 50 microg/mL [3], do đó việc tiếp xúc trực tiếp ở nồng độ cao chưa được kiểm soát có thể gây hại cho mô da lành.

Hiểu lầm thường gặp về việc dùng gỗ mun chữa bệnh da liễu

Nhiều người cho rằng các loại gỗ quý như gỗ mun lành tính tuyệt đối vì có nguồn gốc tự nhiên. Đây là quan niệm sai lầm, bởi hoạt chất plumbagin phân lập từ vỏ mun có dược lực mạnh, tiêu diệt được vi sinh vật nhưng cũng có khả năng gây độc tế bào [2], [3].

Một hiểu lầm phổ biến khác là mài thanh gỗ mun hoặc ngâm vỏ mun vào rượu để bôi trực tiếp lên vết thương hở, mụn nhọt hay vùng da lở loét. Dịch chiết tự chế tại nhà không kiểm soát được nồng độ hoạt chất, có thể lẫn tạp chất hoặc vi khuẩn từ môi trường, dễ dẫn đến bỏng rát, hoại tử da hoặc nhiễm trùng thứ phát nặng hơn.

Ai nên thận trọng?

Chưa có nghiên cứu an toàn nào về chiết xuất vỏ thân chi Diospyros trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ. Dữ liệu hiện có chủ yếu thực hiện trên mô hình tế bào và chuột thí nghiệm [2], [3], [7]. Do đó, những nhóm đối tượng này tuyệt đối không tự ý tiếp xúc hay sử dụng các bài thuốc dân gian từ gỗ mun.

Những người có làn da nhạy cảm, bệnh nhân đang bị viêm da cơ địa bùng phát, có vết thương hở sâu hoặc nhiễm trùng da lan rộng cần tránh xa các chế phẩm thảo mộc truyền miệng chưa qua kiểm định để tránh nguy cơ kích ứng nặng.

Khuyến cáo ứng dụng thực tế

Hiện nay, khoa học chưa chuẩn hóa liều lượng hay dạng bào chế an toàn nào từ gỗ mun để trị bệnh da liễu tại nhà. Mọi người không nên tự ý tìm mua vỏ thân, mùn cưa gỗ mun về đun nước tắm, ngâm rượu xoa bóp hoặc bôi đắp lên vùng da tổn thương.

Khi xuất hiện các triệu chứng bất thường ngoài da như ngứa dai dẳng, nổi mụn mủ, bong tróc hay nghi ngờ nhiễm nấm, người bệnh cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa da liễu. Việc chẩn đoán đúng tác nhân và sử dụng các thuốc kháng nấm, kháng khuẩn theo phác đồ của bác sĩ là biện pháp an toàn và hiệu quả nhất. Các thảo dược tự nhiên cần thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng trước khi được công nhận là một liệu pháp điều trị chính thức.