Nhiều gia đình thường hái lá sa kê tươi sắc nước uống hằng ngày hoặc phơi khô, sấy khô để làm trà dùng dần nhằm thanh nhiệt và hạ huyết áp. Thắc mắc phổ biến là liệu lá tươi hay lá phơi, sấy khô giữ được hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa tốt hơn.

Hiện tại, các nghiên cứu khoa học công bố chưa so sánh trực tiếp hàm lượng polyphenol giữa lá sa kê tươi và lá sa kê khô qua các mức nhiệt độ sấy cụ thể. Dữ liệu thực nghiệm xác nhận lá sa kê (Artocarpus altilis) chứa nhiều hợp chất phenolic, flavonoid có khả năng dọn gốc tự do và hạ huyết áp, nhưng mức biến đổi hoạt chất theo phương pháp sấy khô hay phơi khô vẫn chưa được ghi nhận trong các thử nghiệm chuẩn hóa.

Cơ chế chống oxy hóa của các hợp chất trong cây sa kê

Cơ thể con người liên tục tạo ra các gốc tự do, chủ yếu là các dạng oxy phản ứng (ROS), thông qua quá trình trao đổi chất tự nhiên hoặc tiếp xúc với ô nhiễm môi trường, khói thuốc và bức xạ [1]. Khi các gốc tự do tích tụ quá mức, chúng gây tổn thương tế bào và mô, dẫn đến lão hóa, đái tháo đường, phản ứng viêm cùng các rối loạn tim mạch hay thoái hóa thần kinh [1].

Các hợp chất tự nhiên như polyphenol và flavonoid đóng vai trò chất chống oxy hóa nhờ khả năng trung hòa trực tiếp các gốc tự do, tạo phức chelat với ion kim loại và ức chế quá trình peroxy hóa lipid [2, 3]. Cây sa kê sở hữu các nhóm hoạt chất đa dạng bao gồm tannin, phenolic, glycoside, saponin, steroid, terpenoid và anthraquinone [2]. Khi các phân tử này hoạt động, chúng giúp bảo vệ màng tế bào khỏi tổn thương do hiện tượng oxy hóa gây nên [2, 3].

Dữ liệu khoa học về polyphenol và hoạt tính sinh học của sa kê

Các nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và trên động vật đã làm rõ tiềm năng chống oxy hóa cũng như hạ huyết áp của các bộ phận cây sa kê:

Một nghiên cứu trong ống nghiệm công bố năm 2014 đánh giá hoạt tính của chiết xuất sa kê (Artocarpus altilis) so với chất chuẩn catechin [3]. Kết quả cho thấy chiết xuất sa kê có khả năng dọn gốc tự do DPPH với chỉ số IC50 đạt 593 microg/mL, dọn gốc hydroxyl (OH) với IC50 đạt 487 microg/mL và thể hiện hoạt tính khử cao hơn catechin ở nồng độ 1.000 microg/mL [3]. Ở nồng độ 750 microg/mL, sa kê ức chế quá trình peroxy hóa lipid (LPO) đạt 79% (vượt trội so với mức 28% của catechin), đồng thời ức chế men arginase 67% (tại nồng độ 500 microg/mL ức chế 63%) [3]. Hàm lượng flavonoid trong sa kê cũng được ghi nhận ở mức cao nhất so với các cây thuốc đối chứng trong thử nghiệm [3].

Năm 2011, một nghiên cứu ống nghiệm khác khảo sát dịch chiết lá sa kê trên khả năng ức chế men chuyển angiotensin (ACE) – enzyme liên quan đến bệnh cao huyết áp [2]. Chiết xuất cồn nóng từ lá sa kê cho thấy hoạt tính ức chế ACE mạnh với IC50 đạt 54,08 +- 0.29 microg/mL, tiếp theo là chiết xuất ethyl axetat lạnh với IC50 đạt 85,44 +- 0.85 microg/mL [2]. Ngược lại, chiết xuất nước nóng từ lá sa kê chỉ thể hiện ức chế tối thiểu với IC50 lên tới 765,52 +- 11,97 microg/mL ở nồng độ thử nghiệm tối đa, cho thấy dung môi và nhiệt độ chiết xuất tạo ra sự phân bố hoạt chất rất khác nhau [2].

Năm 2012, các nhà khoa học thử nghiệm tiêm tĩnh mạch dịch chiết nước từ lá sa kê liều 20,88 - 146,18 mg/kg trên chuột cống trắng Sprague-Dawley huyết áp bình thường [4]. Kết quả ghi nhận tác dụng hạ huyết áp và giảm nhịp tim rõ rệt thông qua cơ chế đối kháng thụ thể alpha-adrenergic và kênh canxi [4]. Ngoài ra, dịch chiết nước ở nồng độ 0,71 - 4,26 mg/mL làm giãn vòng động mạch chủ cô lập bị co thắt bởi phenylephrine và KCl 80 mM, đồng thời ức chế vừa phải hai enzyme chuyển hóa thuốc gan CYP3A4 và CYP2D6 với giá trị IC50 lần lượt là 0,695 +- 0,187 mg/mL và 0,512 +- 0,131 mg/mL [4].

Nghiên cứu công bố năm 2013 phân lập các flavonoid prenyl hóa từ lõi gỗ và vỏ thân sa kê, phát hiện nhiều hợp chất có khả năng dọn gốc tự do DPPH, cation ABTS+ và anion superoxide, đồng thời ức chế tyrosinase giúp giảm sinh sắc tố melanin [5]. Một nghiên cứu năm 2014 trên chuột cống tăng cholesterol máu cũng chỉ ra rằng chiết xuất methanol của sa kê nồng độ 750 microg/mL dọn 63% gốc DPPH (so với 68% của catechin), giảm nồng độ MDA (chỉ dấu peroxy hóa lipid) trong huyết thanh và mô, đồng thời phục hồi hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa nội sinh SOD và catalase [6].

Nghiên cứu năm 2023 trên đạm thủy phân từ thịt quả sa kê không hạt ghi nhận khả năng dọn gốc tự do DPPH đạt 43,0 +- 0,01% khi thủy phân bằng pepsin và 22,2 +- 0,01% khi thủy phân bằng trypsin, kèm theo khả năng tạo phức Fe2+ và bảo vệ màng hồng cầu [1].

Thiếu hụt bằng chứng về nhiệt độ sấy khô lá sa kê làm trà

Một khoảng trống lớn trong y văn hiện nay là chưa có thử nghiệm đo lường trực tiếp sự suy giảm hay bền vững của flavonoid trong lá sa kê tươi so với các mức nhiệt độ sấy khô khác nhau (như phơi nắng, sấy nhiệt thấp hay sấy lò nóng).

Dữ liệu xử lý bằng vi sóng có ghi nhận trên loài cùng chi họ là lá mít (Artocarpus heterophyllus) công bố năm 2021 [7]. Khi xử lý lá mít ở công suất 840 W trong 2 phút, các nhà nghiên cứu thu được hàm lượng polyphenol hòa tan tối đa đạt 148,75 mg GAE/g trọng lượng khô, flavonoid đạt 13,28 mg rutin tương đương/g trọng lượng khô, ức chế nấm Alternaria sp. 39,9%, ức chế ABTS+ 97% và DPPH 92% [7]. Tuy nhiên, đây là dữ liệu trên lá mít dưới tác động của vi sóng hỗ trợ chiết xuất, không phản ánh chính xác tác động của nhiệt độ sấy khô trên lá sa kê (Artocarpus altilis).

Do đó, người dùng không nên suy diễn rằng lá khô luôn tốt hơn lá tươi hoặc sấy ở nhiệt độ cụ thể nào sẽ bảo toàn được nguyên vẹn 100% hoạt tính của lá sa kê.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng nước lá sa kê

Hiểu lầm phổ biến nhất là xem nước lá sa kê như một loại thuốc điều trị dứt điểm bệnh cao huyết áp có thể thay thế thuốc kê đơn. Dù dịch chiết nước của lá sa kê có tác dụng làm hạ huyết áp và làm chậm nhịp tim trên chuột cống thực nghiệm [4], đây mới chỉ là thử nghiệm trên động vật và trong mô cô lập, chưa đủ dữ liệu lâm sàng diện rộng trên người bệnh để xác định hiệu quả chữa bệnh cũng như liều dùng an toàn hằng ngày.

Một hiểu lầm khác là cho rằng chiết xuất bằng nước sôi thông thường sẽ thu được tối đa hoạt chất có lợi. Nghiên cứu thực tế cho thấy chiết xuất nước nóng từ lá sa kê có hiệu quả ức chế enzyme ACE kém hơn nhiều lần (IC50 765,52 microg/mL) so với dịch chiết cồn nóng (IC50 54,08 microg/mL) hay ethyl axetat lạnh [2]. Vì vậy, việc đun sắc lá sa kê uống tại nhà theo thói quen dân gian không đồng nghĩa với việc cơ thể hấp thu được đầy đủ các hợp chất sinh học có tác dụng ức chế ACE như trong phòng thí nghiệm.

Những ai cần thận trọng khi sử dụng lá sa kê?

Do chiết xuất lá sa kê thể hiện hoạt tính hạ huyết áp và gây chậm nhịp tim qua cơ chế ức chế kênh canxi trên động vật [4], những người bị huyết áp thấp hoặc nhịp tim chậm cần hết sức thận trọng khi sử dụng để tránh nguy cơ tụt huyết áp quá mức.

Bệnh nhân đang điều trị huyết áp bằng thuốc tân dược không được tự ý bỏ thuốc để uống nước lá sa kê. Việc kết hợp nước lá sa kê với các thuốc tim mạch hay thuốc hạ áp có thể gây tương tác hiệp đồng khó kiểm soát. Chiết xuất nước từ lá sa kê cũng có tác dụng ức chế vừa phải các enzyme cytochrom P450 (CYP3A4 và CYP2D6) [4], là hai hệ enzyme chính tham gia chuyển hóa nhiều loại thuốc điều trị tại gan.

Hiện tại hoàn toàn chưa có nghiên cứu chứng minh độ an toàn của lá sa kê trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ. Nhóm đối tượng này không nên tùy tiện sử dụng nước sắc lá sa kê tươi hay khô dưới dạng dược liệu trị bệnh.

Gợi ý sử dụng thực tế và lưu ý an toàn

Vì các tài liệu khoa học hiện có chưa đưa ra liều lượng khuyến cáo chính xác cho con người khi dùng lá sa kê làm trà, người dân chỉ nên dùng với lượng vừa phải mang tính chất hỗ trợ giải khát tạm thời, không sắc uống thay thế hoàn toàn nước lọc trong ngày dài.

Nếu thu hái lá sa kê, cần chọn lá sạch, không nhiễm nấm mốc hoặc thuốc trừ sâu. Dù dùng lá tươi rửa sạch nấu nước hay phơi sấy khô làm trà, cần bảo quản nơi khô ráo, tránh ẩm mốc sinh độc tố. Người có bệnh lý nền về tim mạch, huyết áp hoặc đang sử dụng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi đưa thảo mộc này vào chế độ dùng thường nhật.

Lá sa kê sở hữu tiềm năng sinh học phong phú với các hoạt chất polyphenol có khả năng dọn gốc tự do và hạ huyết áp trên mô hình thí nghiệm. Dù vậy, dữ liệu về việc nhiệt độ sấy làm thay đổi cụ thể ra sao giữa lá tươi và lá khô vẫn còn để ngỏ, đòi hỏi người dùng cần tỉnh táo, sử dụng chừng mực và tuân thủ phác đồ y khoa chuẩn mực.