Thói quen quên uống nước khi bận rộn hoặc ngại uống nước vào buổi tối để tránh tiểu đêm rất phổ biến ở nhiều người. Nhiều độc giả thắc mắc việc uống ít nước mỗi ngày có làm máu bị "đặc" lại và gây tắc mạch hay không.
Câu trả lời ngắn gọn là có. Tình trạng thiếu nước làm giảm thể tích huyết tương, khiến máu bị cô đặc, tăng độ nhớt của máu và làm chậm dòng chảy trong lòng mạch [1, 6]. Sự ứ trệ này thúc đẩy quá trình hình thành cục máu đông (huyết khối), làm tăng nguy cơ tắc mạch máu nhỏ ở não và tĩnh mạch sâu [1, 3, 6].
Cơ chế mất nước làm tăng độ nhớt máu và tạo huyết khối
Độ nhớt của máu (hay độ quánh của máu) là lực ma sát nội tại quyết định tốc độ máu lưu thông trong hệ tuần hoàn. Các yếu tố chính quyết định đặc tính lưu biến của máu bao gồm độ nhớt máu toàn phần, độ nhớt huyết tương, nồng độ fibrinogen (một loại protein đông máu), tỷ lệ dung tích hồng cầu (hematocrit), cùng khả năng kết tập và biến dạng của hồng cầu [4, 5, 6].
Khi cơ thể mất nước, tổng thể tích dịch và thể tích huyết tương suy giảm [2, 6]. Hiện tượng này làm tăng tỷ lệ hematocrit cục bộ và tăng độ nhớt của máu [1]. Đồng thời, thiếu nước làm giảm cung lượng tim và giảm lưu lượng máu tưới đến các cơ [1].
Trong y học, sự hình thành cục máu đông được giải thích qua "tam giác Virchow" gồm ba yếu tố: thay đổi dòng chảy của máu, tổn thương lớp nội mạc mạch máu và thay đổi thành phần máu [1]. Tình trạng mất nước kích hoạt cùng lúc hai trong ba yếu tố này (làm chậm dòng chảy và cô đặc thành phần máu), từ đó đẩy người bệnh vào nguy cơ cao hình thành huyết khối [1, 6]. Ngoài ra, độ nhớt máu tăng cao còn liên quan đến tình trạng tăng fibrinogen huyết tương, giảm tỷ lệ albumin/globulin, tăng huyết áp và tăng nồng độ protein phản ứng C (CRP - chỉ dấu viêm) [7, 8].
Bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa cô đặc máu và tắc mạch
Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã đo lường trực tiếp độ nhớt máu và chỉ số mất nước để làm rõ tác động của chúng lên mạch máu.
Một nghiên cứu công bố năm 1991 thực hiện cắt ngang trên 430 đối tượng, bao gồm 135 bệnh nhân đột quỵ cấp, 89 người có cơn thiếu máu não thoáng qua, 115 người có yếu tố nguy cơ đột quỵ và 91 người khỏe mạnh đối chứng [2]. Kết quả cho thấy độ nhớt máu toàn phần ở tốc độ trượt thấp và độ nhớt huyết tương đều tăng cao có ý nghĩa ở cả nhóm đã có triệu chứng mạch máu não lẫn nhóm mới chỉ có yếu tố nguy cơ so với người khỏe mạnh [2]. Mức độ cô đặc máu xếp theo thứ tự giảm dần: nhóm đột quỵ cao hơn nhóm thiếu máu não thoáng qua, tiếp đến là nhóm có yếu tố nguy cơ và thấp nhất ở nhóm khỏe mạnh [2]. Điều này chứng minh tình trạng tăng độ nhớt máu không chỉ là phản ứng cấp tính mà mang tính chất mạn tính ở người có yếu tố nguy cơ [2].
Năm 2016, một nghiên cứu sử dụng nhớt kế cầu quay điện từ (EMS) để đo độ nhớt máu 4 lần trong thời gian nhập viện ở 92 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính (gồm 25 ca thuyên tắc từ tim, 42 ca xơ vữa động mạch lớn, 25 ca tắc động mạch nhỏ) và so sánh với 100 tình nguyện viên khỏe mạnh [3]. Tại ngày nhập viện, độ nhớt máu của nhóm tắc động mạch nhỏ là 5,37 ± 1,11 mPa·s, cao hơn rõ rệt so với mức 4,66 ± 0,72 mPa·s của nhóm khỏe mạnh [3]. Sau 2 tuần điều trị, nhóm tắc động mạch nhỏ giảm độ nhớt máu mạnh nhất, chứng tỏ máu của họ bị cô đặc nặng nhất vào thời điểm khởi phát bệnh do mất nước [3].
Một nghiên cứu tiến cứu khác công bố năm 2017 đã phân tích 63 bệnh nhân (từ 127 ca nhập viện vì đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp) bằng nhớt kế ống mao dẫn quét [4]. Nghiên cứu đo độ nhớt máu tâm trương (ở tốc độ trượt thấp) và tâm thu (ở tốc độ trượt cao) tại thời điểm khởi phát, sau 1 tuần và sau 5 tuần [4]. Kết quả ghi nhận độ nhớt máu tâm trương lúc khởi phát cao hơn đáng kể ở nhóm tắc động mạch nhỏ và có tương quan thuận với số lượng ổ khuyết não mạn tính [4]. Đáng chú ý, sau 1 tuần truyền dịch bù nước, độ nhớt máu giảm tạm thời nhưng lại tăng trở lại ở tuần thứ 5 [4].
Về nguy cơ đột quỵ khi đang ngủ (đột quỵ lúc thức giấc), một nghiên cứu công bố năm 2025 đã phân tích 1.362 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp nhập viện trong vòng 72 giờ (72% là nam giới, tuổi trung vị là 69), trong đó có 326 ca (24%) bị đột quỵ lúc thức giấc [5]. Khi xét chung toàn bộ 1.362 người, độ nhớt máu tính theo hematocrit không liên quan có ý nghĩa với đột quỵ lúc thức giấc [5]. Tuy nhiên, khi phân tầng theo tuổi và phân nhóm bệnh, độ nhớt máu cao làm tăng nguy cơ đột quỵ lúc thức giấc ở nhóm người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) với tỷ số chênh (OR) là 1,455, nhưng không ảnh hưởng rõ ở người dưới 65 tuổi [5]. Xét theo thể bệnh, độ nhớt máu cao chỉ gây đột quỵ lúc thức giấc ở nhóm tắc mạch máu nhỏ trên mọi lứa tuổi (OR 2,316), bao gồm cả người từ 65 tuổi trở lên (OR 2,427) và người dưới 65 tuổi (OR 3,190) [5].
Mất nước làm nặng thêm biến chứng sau tắc mạch như thế nào?
Không chỉ khởi phát tắc mạch, mất nước còn làm bệnh cảnh tiến triển xấu đi nhanh chóng thông qua cơ chế đông máu và huyết khối tĩnh mạch.
Một nghiên cứu năm 2017 đánh giá mối liên hệ giữa mất nước và huyết khối tĩnh mạch sâu (VTE) trên bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp [1]. Khi xác định tình trạng mất nước bằng tỷ lệ nitơ urê máu trên creatinin (BUN/Cr) lớn hơn 15 trong vòng chưa đầy 3 ngày sau đột quỵ, các nhà khoa học nhận thấy nhóm mất nước có nguy cơ phát triển huyết khối tĩnh mạch cao gấp 8,75 lần (OR 8,75) trong phân tích đa biến [1]. Tài liệu này cũng trích dẫn một nghiên cứu quan sát trước đó cho thấy nồng độ thẩm thấu huyết tương lúc nhập viện trên 296 mOsm/kg có liên quan đến tỷ lệ tử vong trong vòng 3 tháng [1].
Năm 2019, một nghiên cứu hồi cứu đã đánh giá 244 bệnh nhân đột quỵ mức độ nhẹ đến trung bình (điểm NIHSS từ 14 trở xuống) nhập viện trong vòng 24 giờ từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2017 [6]. Mất nước được định nghĩa khi tỷ lệ BUN/Cr từ 15 trở lên và hoạt tính đông máu được đo bằng đàn hồi đồ cục máu (TEG) [6]. Trong vòng 3 ngày đầu, có 64 bệnh nhân (26,2%) gặp tình trạng suy giảm thần kinh sớm [6]. Nhóm suy giảm thần kinh có tỷ lệ BUN/Cr cao hơn (19,2 ± 5,7 so với 15,3 ± 2,9) và thời gian đông máu R, K trên máy TEG ngắn hơn (R: 3,9 ± 1,0 so với 4,6 ± 1,1; K: 1,3 ± 0,5 so với 1,5 ± 0,4) [6]. Phân tích đa biến chỉ ra tình trạng mất nước làm tăng nguy cơ suy giảm thần kinh sớm gấp 3,91 lần (OR 3,91) và thời gian R ngắn làm tăng nguy cơ này gấp 3,18 lần (OR 3,18) một cách độc lập [6].
Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng hiện tại
Các nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện khi kết hợp nhiều phương pháp đo hiện đại như nhớt kế cầu quay điện từ, nhớt kế ống mao dẫn quét, máy đo độ biến dạng hồng cầu bằng laser và đàn hồi đồ cục máu [1, 2, 4, 5]. Dữ liệu chỉ ra rất rõ mạch máu nhỏ ở não là khu vực nhạy cảm nhất với sự thay đổi độ nhớt máu do mất nước [1, 3, 4].
Tuy nhiên, các bằng chứng vẫn tồn tại những giới hạn và kết quả chưa đồng nhất. Một nghiên cứu tiến cứu công bố năm 2024 trên 70 bệnh nhân đột quỵ cấp (trong 3 ngày đầu) và 96 người khỏe mạnh cho thấy nhóm đột quỵ có sự khác biệt rõ rệt về biên độ kết tập, chỉ số kết tập, nửa thời gian kết tập hồng cầu và chỉ số kéo dài tối đa, nhưng lại không có sự khác biệt có ý nghĩa về độ nhớt máu toàn phần và độ nhớt huyết tương khi so với nhóm chứng [7]. Dù vậy, sau 5 ngày điều trị, phân nhóm tắc mạch máu nhỏ vẫn giảm rõ rệt độ nhớt máu toàn phần [7]. Nghiên cứu này cũng ghi nhận nồng độ homocysteine tương quan thuận với các tổn thương chất trắng rải rác ở hạch nền và vùng dưới lều [7].
Tương tự, một nghiên cứu hồi cứu năm 2025 trên 298 bệnh nhân đột quỵ cấp (tuổi trung bình 68,6 ± 13,4; 54,7% là nữ) nhập viện từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2022 ghi nhận độ nhớt máu tâm trương cao hơn ở người có bệnh mạch máu nhỏ, nhồi máu ổ khuyết cũ hoặc vi xuất huyết não [8]. Thế nhưng khi đưa vào phân tích đa biến, độ nhớt máu tâm trương không còn liên quan độc lập với phân nhóm đột quỵ hay dấu hiệu hình ảnh học, mà chỉ liên quan độc lập với bệnh tăng huyết áp và nồng độ CRP cao [8]. Ngoài ra, việc chẩn đoán mức độ mất nước trên lâm sàng vẫn thiếu một ngưỡng cắt tuyệt đối; các dấu hiệu như sụt cân, độ đàn hồi da, nhịp thở sâu hay thời gian đổ đầy mao mạch đều có hạn chế do thiếu dữ liệu nền của từng người [1].
Những hiểu lầm thường gặp về cô đặc máu
Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng máu chỉ bị cô đặc tức thời khi cơ thể khát nước dữ dội. Thực tế, tình trạng tăng độ nhớt máu có tính chất mạn tính ở những người mang sẵn các yếu tố nguy cơ mạch máu dù chưa từng phát bệnh [2]. Ngay cả khi được truyền dịch làm giảm độ nhớt máu ở tuần đầu tiên, máu vẫn có thể tái cô đặc trở lại ở tuần thứ 5 nếu không duy trì bù nước đầy đủ [4].
Hiểu lầm thứ hai là chỉ người già mới bị tắc mạch do máu cô đặc khi ngủ. Nghiên cứu phân tầng năm 2025 đã chứng minh đối với thể tắc mạch máu nhỏ, độ nhớt máu cao làm tăng nguy cơ đột quỵ lúc thức giấc ở cả người dưới 65 tuổi (OR 3,190) chứ không riêng người cao tuổi [5].
Ai nên thận trọng với tình trạng mất nước?
Nhóm cần đặc biệt lưu tâm là người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên), người có bệnh tăng huyết áp, chỉ số viêm CRP cao, nồng độ fibrinogen cao hoặc có tiền sử thiếu máu não thoáng qua, tổn thương mạch máu nhỏ ở não [3, 7, 8].
Những hành khách di chuyển bằng máy bay đường dài, ngồi lâu nhiều giờ liền cũng thuộc nhóm nguy cơ cao mắc huyết khối tĩnh mạch sâu do mất nước kết hợp giảm lưu thông máu cơ, thường gọi là "hội chứng hạng phổ thông" [1]. Bên cạnh đó, bệnh nhân đang mắc viêm phổi, nhồi máu cơ tim hoặc người sau đột quỵ bị phụ thuộc thể chất, rối loạn ý thức, chứng khó nuốt rất dễ rơi vào tình trạng thiếu hụt dịch nghiêm trọng [2, 6]. Những người có bệnh nền tim mạch, thận hoặc đang dùng thuốc cần tham khảo ý kiến bác sĩ để biết định mức nước phù hợp.
Cách áp dụng thực tế để duy trì độ nhớt máu ổn định
Để phòng ngừa cô đặc máu, nguyên tắc cốt lõi là duy trì việc bù nước đều đặn mỗi ngày thay vì đợi đến khi khát mới uống [4]. Bạn nên chia nhỏ lượng nước uống rải đều từ sáng đến chiều tối. Việc uống một lượng nước vừa phải trước khi đi ngủ và ngay sau khi thức dậy giúp hạn chế tình trạng tăng độ nhớt máu trong lúc ngủ [5].
Trong các chuyến bay dài hoặc khi phải ngồi làm việc liên tục, hãy chủ động uống nước định kỳ và kết hợp cử động chân để hỗ trợ dòng máu hồi lưu về tim, tránh ứ trệ tuần hoàn ở cơ [1]. Đối với người cao tuổi hoặc người bệnh gặp tình trạng khó nuốt, người nhà cần theo dõi sát lượng nước đưa vào cơ thể hằng ngày và báo ngay cho bác sĩ nếu có biểu hiện mệt lả, tiểu ít để kiểm tra các chỉ số sinh hóa như BUN/Cr, nồng độ urê (ngưỡng từ 100 mg/dL trở lên), bicarbonat (từ 15 mEq/L trở lên) hoặc độ thẩm thấu huyết tương [2, 6].
Uống đủ nước là biện pháp sinh lý đơn giản giúp duy trì thể tích huyết tương và giữ độ nhớt máu ở mức an toàn. Tuy nhiên, đối với người có bệnh lý mạch máu nhỏ hoặc tăng huyết áp, việc uống nước cần đi kèm các can thiệp y tế kiểm soát yếu tố nguy cơ theo đúng phác đồ của bác sĩ [4, 7].




