Bối cảnh và thắc mắc thường gặp

Rau khúc nếp (tên khoa học Gnaphalium affine) là loại rau dại quen thuộc trong ẩm thực và y học dân gian ở các nước Đông Á [1]. Nhiều người cao tuổi mắc bệnh mạn tính thường dùng rau khúc làm bánh hoặc đun nước uống nhằm hỗ trợ sức khỏe [1]. Tuy nhiên, việc sử dụng thảo mộc cùng lúc với thuốc điều trị tăng huyết áp hàng ngày đặt ra câu hỏi lớn về tính an toàn và nguy cơ tương tác thuốc.

Liệu các hoạt chất sinh học tự nhiên trong rau khúc nếp có thể hiệp đồng làm tụt huyết áp quá mức hoặc ảnh hưởng đến thuốc tim mạch hay không? Bệnh nhân tăng huyết áp cần hiểu rõ cơ chế tương tác và các bằng chứng dược lý để dùng đúng cách.

Câu trả lời khoa học ngắn gọn

Hiện tại chưa có thử nghiệm lâm sàng trực tiếp trên người đánh giá tương tác giữa rau khúc nếp và thuốc hạ áp. Dù vậy, dữ liệu hóa thực vật và dược động học trên động vật cho thấy chiết xuất rau khúc chứa nhiều hợp chất polyphenol, flavonoid có hoạt tính sinh học [2, 3].

Khi kết hợp dược liệu có hoạt tính hạ áp nhẹ hoặc tác động lợi tiểu với thuốc tân dược (như nhóm ức chế men chuyển hoặc thuốc lợi tiểu), nguy cơ cộng hưởng tác dụng có thể xảy ra, gây hạ huyết áp quá mức hoặc rối loạn chuyển hóa [1, 4, 8].

Cơ chế tác động và thành phần rau khúc nếp

Chi chiết xuất từ rau khúc (Gnaphalium) chứa hơn 125 thành phần hóa học đã được phân lập [1]. Trong đó bao gồm các nhóm chất quan trọng như flavonoid, diterpene, triterpene, sesquiterpene, phytosterol, anthraquinone và dẫn xuất acid caffeoylquinic [1].

Các hợp chất này tạo nên nhiều hoạt tính sinh học đa dạng như chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, chống ho, trừ đờm, hạ đường huyết, kháng viêm và ức chế tăng acid uric [1]. Trong tế bào cơ tim H9c2, chiết xuất rau khúc giúp bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa do hydrogen peroxide nhờ duy trì hoạt tính enzyme superoxide dismutase (SOD) và điều hòa tín hiệu Nrf2 [2].

Bên cạnh đó, các nghiên cứu in vitro chỉ ra rau khúc chứa các chất ức chế xanthine oxidase mạnh như flavone eupatilin (hằng số ức chế Ki là 0,37 micromol/L), apigenin (Ki là 0,56 micromol/L), luteolin (Ki là 2,63 micromol/L) và 5-hydroxy-6,7,3',4'-tetramethoxyflavone (Ki là 3,15 micromol/L) [3]. Hoạt tính này hỗ trợ đào thải acid uric qua thận [3].

Bằng chứng nghiên cứu dược động học và tương tác thuốc

Dược động học của rau khúc được làm rõ qua nghiên cứu năm 2023 trên chuột cống đực [4]. Chuột bình thường được cho uống chiết xuất rau khúc với các liều 225, 450 hoặc 900 mg/kg/ngày liên tục trong 10 ngày, và chuột bị bệnh thận do acid uric dùng liều 900 mg/kg/ngày trong 28 ngày [4]. Kết quả cho thấy 10 thành phần hoạt tính (bao gồm acid caffeic, acid caffeoylquinic và flavonoid) đều xuất hiện hiện tượng hai đỉnh trên đường cong nồng độ-thời gian, chứng minh các chất này trải qua chu trình gan-ruột [4].

Đáng chú ý, ở chuột có tổn thương thận do acid uric, mức độ tiếp xúc huyết tương (AUC) của acid caffeic và acid caffeoylquinic tăng từ 2,3 đến 4,3 lần so với chuột bình thường sau 10 ngày dùng liều 900 mg/kg [4]. Hiện tượng tích lũy thuốc nhẹ cũng được ghi nhận sau 28 ngày dùng liên tục [4]. Điều này cho thấy khi chức năng thận suy giảm, các hoạt chất từ rau khúc lưu lại trong máu lâu hơn và tích tụ nhiều hơn [4].

Về phía thuốc hạ áp, các nghiên cứu chéo nhân tố đối chứng mù đôi đã xác nhận sự kết hợp giữa các nhóm thuốc hạ áp tạo ra tác động cộng gộp [5]. Điển hình, thuốc ức chế men chuyển enalapril (20 mg/ngày) khi phối hợp cùng thuốc lợi tiểu hydrochlorothiazide (50 mg/ngày) tạo ra hiệu ứng hạ áp hiệp đồng mạnh mẽ [5]. Ngược lại, việc dùng chung enalapril với thuốc chẹn beta atenolol (50 mg/ngày) lại ghi nhận rất ít hiệu quả hạ áp bổ sung [5].

Nguy cơ hiệp đồng khi kết hợp dược liệu và thuốc hạ áp

Các tương tác thuốc hạ áp có thể đem lại lợi ích lâm sàng nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro độc tính nếu không được kiểm soát [6]. Việc dùng chung thuốc lợi tiểu với các chất khác đòi hỏi sự cẩn trọng cao, chẳng hạn như nguy cơ khi phối hợp thuốc lợi tiểu giữ kali với viên bổ sung kali, hay dùng thuốc lợi tiểu với glycoside trợ tim [6].

Thuốc lợi tiểu nhóm thiazide như hydrochlorothiazide hoạt động bằng cách ngăn tái hấp thu ion natri tại ống lượn xa, đồng thời làm tăng đào thải kali qua nước tiểu và tăng acid uric máu [7]. Một nghiên cứu năm 2022 về hóa tin học chỉ ra rằng nhiều hợp chất tự nhiên có khả năng gắn kết mạnh với kênh đồng vận chuyển ion ở thận (NCC và NKCC), từ đó gây lợi tiểu hoặc giãn mạch [8].

Khi các hợp chất thảo mộc có tính chất giãn mạch hoặc lợi tiểu kết hợp cùng thuốc tân dược điều trị tăng huyết áp, nguy cơ hạ huyết áp tư thế đứng tăng cao [8]. Hiện tượng này có thể dẫn tới các cơn ngất xỉu, đặc biệt là ở người cao tuổi có thành mạch kém nhạy cảm [8]. Vì vậy, việc dùng rau khúc nếp chứa nhiều hợp chất tự nhiên cùng lúc với thuốc ức chế men chuyển hay thuốc lợi tiểu có thể tạo ra cộng hưởng không lường trước [1, 8].

Lợi ích thực tế và giới hạn của bằng chứng hiện tại

Các bộ phận của cây rau khúc nếp đem lại nguồn dinh dưỡng tốt và được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực sau Tết Thanh minh tại miền Nam Trung Quốc như làm đồ hộp, đông lạnh, đồ uống và rau tươi [1]. Nghiên cứu tế bào thực nghiệm cho thấy chiết xuất rau khúc hỗ trợ chống viêm, kháng oxy hóa tế bào cơ tim [2].

Mặc dù có nhiều triển vọng, các bằng chứng dược lực học hiện nay mới chỉ giới hạn ở mức độ tế bào in vitro [5, 6] và mô hình động vật gặm nhấm [4]. Chưa có thử nghiệm trực tiếp trên người bệnh tăng huyết áp để xác định liều lượng chiết xuất bao nhiêu sẽ gây tương tác bất lợi với enalapril hay hydrochlorothiazide. Do đó, người dùng không nên vội vã coi rau khúc là phương thuốc điều trị huyết áp hay thay thế chỉ định y khoa.

Hiểu lầm thường gặp về rau khúc và bệnh tim mạch

Nhiều người lầm tưởng thảo dược tự nhiên hoàn toàn lành tính, dùng bao nhiêu cũng không gây hại. Thực tế, nghiên cứu trên chuột cống cho thấy các polyphenol và flavonoid trong chiết xuất rau khúc có hiện tượng tích lũy sau 28 ngày và chịu sự tái hấp thu tại chu trình gan-ruột [4].

Một hiểu lầm khác là dùng rau khúc nếp có thể thay thế thuốc tân dược để làm giảm huyết áp. Chiết xuất rau khúc được nghiên cứu chủ yếu ở tác dụng hạ acid uric thông qua ức chế men xanthine oxidase [2, 5], việc tự ý bỏ thuốc hạ áp để dùng trà hay bài thuốc rau khúc có thể khiến chỉ số huyết áp mất kiểm soát.

Những ai nên thận trọng khi dùng rau khúc nếp?

  • Người đang uống thuốc lợi tiểu điều trị tăng huyết áp: Nguy cơ cộng hưởng làm tụt huyết áp tư thế hoặc thay đổi cân bằng điện giải cần được theo dõi sát [7, 8].
  • Bệnh nhân suy giảm chức năng thận: Nồng độ các hoạt chất acid caffeic và dẫn xuất quinic trong máu tăng gấp 2,3 đến 4,3 lần ở cá thể tổn thương thận, dễ dẫn đến tích lũy hoạt chất [4].
  • Người cao tuổi đang dùng đa đơn thuốc tim mạch: Nhóm đối tượng này rất nhạy cảm với hiện tượng tụt huyết áp tư thế đứng dẫn đến choáng váng, té ngã hoặc ngất xỉu [8].

Hướng dẫn áp dụng an toàn trong đời sống

Người đang điều trị bệnh tăng huyết áp vẫn có thể thưởng thức các món ăn truyền thống từ rau khúc nếp như bánh khúc với lượng vừa phải dạng thực phẩm. Tránh tự ý đun sắc nước rau khúc nếp cô đặc hoặc dùng chiết xuất liều cao dài ngày khi chưa có tư vấn y tế.

Nếu có sử dụng món ăn chứa rau khúc nếp, nên dùng cách xa thời điểm uống thuốc hạ áp tân dược ít nhất 2 đến 3 giờ để hạn chế tối đa nguy cơ ảnh hưởng hấp thu đường tiêu hóa. Khi thấy dấu hiệu hoa mắt, chóng mặt hoặc tụt huyết áp bất thường, cần ngừng ngay và báo cho bác sĩ điều trị.

Người bệnh tăng huyết áp cần duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng và uống thuốc đúng chỉ định. Mọi thực phẩm hay dược thảo bổ sung đều cần được sử dụng thận trọng dựa trên khuyến cáo chuyên môn.