Mùa hè đến cũng là thời điểm mít vào mùa rộ, với hương thơm nồng nàn và vị ngọt đậm khiến nhiều người khó lòng cưỡng lại. Tuy nhiên, với những người đang sống chung với bệnh thận mạn tính, mỗi múi mít thơm ngon lại có thể tiềm ẩn những hiểm họa khó lường cho sức khỏe nếu ăn không kiểm soát. Nhiều người bệnh thường băn khoăn liệu bản thân có phải kiêng tuyệt đối thứ quả này hay không, và nếu ăn thì mức nào được coi là an toàn để tránh biến chứng tăng kali máu.
Câu trả lời ngắn gọn là người bệnh thận mạn giai đoạn tiến triển hoặc có nguy cơ cao cần hạn chế tối đa việc ăn mít, thậm chí nên kiêng hẳn nếu chức năng đào thải của thận đã suy giảm nghiêm trọng. Ngược lại, ở giai đoạn sớm khi mức lọc cầu thận còn được bảo tồn tốt, người bệnh vẫn có thể thưởng thức một lượng rất nhỏ nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn kiểm soát điện giải từ bác sĩ điều trị.
Cơ chế giữ kali và hiểm họa khi chức năng thận suy giảm
Ở cơ thể người khỏe mạnh, thận đóng vai trò trung tâm trong việc duy trì trạng thái cân bằng nội môi của ion kali [1]. Thận lọc và đào thải lượng kali dư thừa ra khỏi cơ thể qua đường nước tiểu nhằm giữ nồng độ chất điện giải này trong máu ở mức ổn định. Thông thường, một người có chức năng thận bình thường cần nạp từ 2000 đến 3500 mg kali mỗi ngày (tương đương 50-90 mEq) để phục vụ cho các hoạt động sinh lý bình thường của cơ bắp và thần kinh [2].
Khi thận bị tổn thương mạn tính, khả năng bài tiết ion kali qua nước tiểu bị suy giảm rõ rệt [3], [4]. Thận không còn đủ năng lực để tống xuất lượng kali dư thừa tích tụ từ thực phẩm tiêu thụ hằng ngày [1]. Tình trạng này khiến lượng ion kali ứ đọng dần trong tuần hoàn máu, dẫn đến hiện tượng tăng kali máu [4]. Tăng kali máu là một trong những bất thường điện giải cấp tính nguy hiểm hàng đầu vì có thể dẫn đến các rối loạn điện sinh học tại cơ tim [3], [5].
Các triệu chứng lâm sàng của tăng kali máu thường rất mơ hồ và khó nhận biết sớm trong giai đoạn đầu [2]. Người bệnh có thể chỉ cảm thấy yếu cơ, mệt mỏi toàn thân, bứt rứt khó chịu hoặc thỉnh thoảng xuất hiện cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực [2]. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, nồng độ kali tăng vọt có thể kích hoạt các cơn loạn nhịp tim ác tính như rung thất, ngừng tim đột ngột và dẫn tới tử vong [1], [2], [3].
Ngưỡng nồng độ kali máu và định nghĩa lâm sàng cần lưu ý
Trong thực hành lâm sàng, tình trạng tăng kali máu ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận thường được xác định khi nồng độ kali trong huyết thanh vượt quá ngưỡng 5,0 mEq/L hoặc 5,5 mEq/L tùy theo từng tiêu chuẩn chuyên môn [6]. Tăng kali máu là biến chứng rất thường gặp ở những người mắc bệnh thận mạn tính cũng như bệnh thận giai đoạn cuối [1]. Nguy cơ này có xu hướng gia tăng tỉ lệ thuận với mức độ suy giảm của tốc độ lọc cầu thận [7].
Các báo cáo dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ hiện mắc của tình trạng tăng kali máu có thể lên tới 10% ở nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính chưa phải bước vào giai đoạn lọc máu chu kỳ [6]. Sự gia tăng nồng độ kali trong máu không chỉ gây nguy hiểm ở các mức độ cực đoan mà ngay cả ở những khoảng nồng độ chưa chạm tới ngưỡng can thiệp khẩn cấp, nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân cũng đã bắt đầu tăng lên rõ rệt [3].
Tình trạng tăng kali máu nghiêm trọng luôn được coi là một cấp cứu y khoa đòi hỏi phải có các biện pháp can thiệp hạ kali tức thì [1], [5]. Sau khi cấp cứu qua cơn nguy kịch, các chiến lược can thiệp tiếp theo bắt buộc phải hướng đến việc ngăn chặn hiện tượng này tái diễn [1].
Bằng chứng khoa học về nguy cơ tích tụ kali ở người bệnh thận
Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích sâu các yếu tố thúc đẩy tăng kali máu trên bệnh nhân có tổn thương thận. Một tổng quan y khoa công bố năm 2018 chỉ ra rằng sự phối hợp giữa suy giảm chức năng thận cùng các bệnh lý đi kèm như tổn thương thận cấp, bệnh tim mạch hoặc đái tháo đường làm gia tăng mạnh mẽ nguy cơ rối loạn điện giải [1]. Nghiên cứu này nhấn mạnh việc kiểm soát kali mạn tính tập trung trước hết vào việc loại bỏ các yếu tố nguy cơ từ khẩu phần ăn nhiều kali và điều chỉnh các loại thuốc làm tăng giữ kali [1]. Điểm hạn chế trong điều trị truyền thống là việc ngừng các nhóm thuốc bảo vệ thận như thuốc ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) để ngừa tăng kali lại vô tình làm mất đi lợi ích bảo vệ thận quý giá của thuốc [1].
Một nghiên cứu báo cáo ca bệnh và tổng quan y văn năm 2016 đã mô tả trường hợp cụ thể của một bệnh nhân nam 68 tuổi có tiền sử bệnh cơ tim không do thiếu máu cục bộ, bệnh thận mạn giai đoạn II, đái tháo đường phụ thuộc insulin và tăng huyết áp [2]. Bệnh nhân này phải nhập viện tới 3 lần chỉ trong vòng một tháng do tái phát tăng kali máu nghiêm trọng với mức kali huyết thanh đo được là 6,7 mmol/L trong khi creatinin huyết thanh ở mức 1,1 mg/dL [2]. Tác giả chỉ ra rằng ngoài các loại thuốc điều trị huyết áp và tim mạch như thuốc ức chế men chuyển hay thuốc kháng thụ thể mineralocorticoid, các nguồn đưa kali từ chế độ ăn uống, chất thay thế muối và thực phẩm chức năng thường là nguyên nhân bị xem nhẹ nhưng lại có thể đẩy người bệnh thận vào cơn nguy kịch [2].
Một nghiên cứu dịch tễ học khác công bố năm 2016 đã khẳng định rằng tăng kali máu liên quan mật thiết đến việc gia tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và các cơn loạn nhịp tim ác tính như rung thất [3]. Hiện tượng này xảy ra phổ biến nhất ở bệnh nhân thận mạn tính do sự cộng dồn giữa khả năng bài tiết ion kém và việc sử dụng các thuốc ức chế hệ RAAS [3]. Nguy cơ tử vong nâng cao này hiện diện ở tất cả các nhóm đối tượng bệnh nhân [3].
Đến năm 2020, một nghiên cứu tổng quan về xử trí tăng kali máu ở bệnh thận mạn tính tiếp tục khẳng định việc hướng dẫn bệnh nhân thực hiện chế độ ăn ít kali cùng với việc theo dõi sát sao sự tuân thủ là bước đi đầu tiên vô cùng cần thiết [4]. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh việc rà soát đơn thuốc và bệnh lý nền để cân nhắc giảm liều thuốc giữ kali hoặc phối hợp thuốc gắn kali nhằm kiểm soát nồng độ điện giải trong máu [4].
Nghịch lý giữa kiêng cữ kali và duy trì dinh dưỡng hợp lý
Dù việc hạn chế dung nạp kali qua đường ăn uống là biện pháp kinh điển, các nhà khoa học gần đây cũng cảnh báo những nguy cơ tiềm ẩn nếu người bệnh kiêng khem quá mức một cách cực đoan [8]. Một nghiên cứu công bố năm 2013 về tiến triển bệnh thận và lượng kali nạp vào cho thấy cả tình trạng hạ kali máu lẫn tăng kali máu đều liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân thận mạn [8]. Khi người bệnh kiêng khem quá đà kết hợp với việc loại bỏ kali quá mức qua lọc máu, họ có nguy cơ đối mặt với tình trạng tăng huyết áp mạn tính trầm trọng hơn, tụt huyết áp trong khi lọc máu, thúc đẩy xơ hóa thận, hình thành nang thận và gây loạn nhịp thất [8].
Nghiên cứu năm 2013 cũng đưa ra khuyến cáo không nên bắt buộc áp dụng chế độ hạn chế kali nghiêm ngặt ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn sớm [8]. Thay vào đó, việc hạn chế kali thường quy chỉ nên áp dụng bắt buộc ở những bệnh nhân mắc bệnh thận mạn giai đoạn tiến triển cần lọc máu, đồng thời cần theo dõi nồng độ kali huyết thanh định kỳ ở những ai đang sử dụng thuốc ức chế hệ RAAS [8].
Thêm vào đó, một bài tổng quan năm 2020 về tác động của việc hạn chế kali trong khẩu phần ăn đã phân tích rằng chế độ ăn giàu thực phẩm từ thực vật mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nhờ chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ [6]. Những dưỡng chất này giúp giảm huyết áp, hạ thấp nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ và có thể ngăn chặn sự tiến triển của suy thận [6]. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân suy thận nặng có kali máu vượt ngưỡng an toàn, việc điều chỉnh lượng ăn vẫn là chỉ định bắt buộc [6]. Sự xuất hiện của các loại thuốc gắn kali thế hệ mới như patiromer hay sodium zirconium cyclosilicate (SZC) được kỳ vọng sẽ giúp người bệnh kiểm soát được nồng độ kali huyết thanh, từ đó có thể nới lỏng phần nào chế độ ăn uống khắt khe [6], [7].
Mặc dù vậy, các thuốc trao đổi ion thế hệ cũ như sodium polystyrene sulfonate vẫn ghi nhận một số tác dụng phụ bất lợi như hoại tử đại tràng, hạ magie máu và tăng natri máu [7]. Do đó, người bệnh không thể chủ quan dựa dẫm hoàn toàn vào thuốc mà lơ là chế độ ăn uống hằng ngày [4].
Hiểu lầm thường gặp của người bệnh thận khi ăn hoa quả
Nhiều người bệnh thận thường có tâm lý chủ quan cho rằng mít hay các loại trái cây tươi tự nhiên chỉ chứa vitamin nên ăn bao nhiêu cũng an toàn cho sức khỏe. Đây là một nhận thức sai lầm rất phổ biến. Thực tế, nhiều loại hoa quả nhiệt đới có vị ngọt đậm như mít chứa một lượng kali và đường cô đọng. Với một quả thận khỏe mạnh, lượng kali này nhanh chóng được bài tiết trơn tru [1]. Nhưng ở người bệnh thận, từng lượng nhỏ kali tích lũy qua các bữa ăn phụ đều có thể làm tăng gánh nặng đào thải cho các nephron đang bị tổn thương [3], [4].
Một hiểu lầm khác là người bệnh nghĩ rằng chỉ khi nào cơ thể xuất hiện các triệu chứng rõ rệt như mệt mỏi nhiều hay loạn nhịp tim thì mới cần dừng ăn các món giàu kali. Nghiên cứu y học đã chỉ ra rằng các triệu chứng của tăng kali máu rất mơ hồ và khó đoán trước [2]. Nhiều trường hợp nồng độ kali trong máu đã chạm ngưỡng nguy hiểm đe dọa ngừng tim mà người bệnh hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu báo động nào rõ ràng từ trước [2], [3].
Ngoài ra, không ít người bệnh cho rằng đã bị bệnh thận thì giai đoạn nào cũng phải nhịn ăn hoa quả tuyệt đối. Việc kiêng khem vô căn cứ từ giai đoạn sớm có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, thiếu hụt chất xơ và thậm chí gây tụt kali máu nguy hiểm không kém [8]. Chế độ ăn uống cần phải được điều chỉnh linh hoạt và cá nhân hóa theo từng giai đoạn bệnh [8].
Những đối tượng bệnh nhân cần tuyệt đối thận trọng với mít
Người bệnh thận mạn tính thuộc các nhóm sau đây cần đặc biệt cảnh giác và hạn chế nghiêm ngặt hoặc kiêng ăn mít:
- Người bệnh thận mạn giai đoạn tiến triển (giai đoạn 4, giai đoạn 5) hoặc những người đang phải điều trị bằng phương pháp lọc máu chu kỳ [8], [6]. Ở giai đoạn này, khả năng tự đào thải ion của thận gần như đã mất, nguy cơ tăng kali máu luôn ở mức báo động đỏ [1], [8].
- Bệnh nhân có tiền sử từng bị tăng kali máu tái phát hoặc nồng độ kali huyết thanh xét nghiệm gần nhất vượt quá 5,0 mEq/L [2], [6].
- Người bệnh thận đang sử dụng các loại thuốc giữ kali trong đơn điều trị, đặc biệt là nhóm thuốc ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone (như thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin) hoặc thuốc kháng thụ thể mineralocorticoid [1], [2], [7].
- Bệnh nhân thận mạn có kèm theo các bệnh lý chuyển hóa và tim mạch phối hợp như suy tim hoặc đái tháo đường [1], [2], [3]. Đái tháo đường cùng với suy giảm chức năng thận làm tăng mức độ nghiêm trọng của các rối loạn thăng bằng điện giải [2], [3].
Hướng dẫn áp dụng thực tế và lời khuyên cân bằng
Để bảo vệ quả tim và duy trì sự ổn định của chức năng thận, người bệnh cần thực hiện các nguyên tắc ăn uống an toàn sau:
- Định lượng và giới hạn: Nếu đang ở giai đoạn bệnh thận sớm (giai đoạn 1, 2) và nồng độ kali máu trong giới hạn bình thường, người bệnh chỉ nên thưởng thức mít ở mức độ thăm dò, khoảng 1-2 múi nhỏ trong ngày và không ăn liên tục nhiều ngày. Tuyệt đối không ăn mít sấy khô vì quá trình sấy làm cô đặc lượng đường và các khoáng chất.
- Thời điểm ăn: Không nên ăn mít ngay sau các bữa chính vốn đã có nhiều thực phẩm giàu đạm hoặc khoáng chất. Nên ăn cách xa bữa ăn chính để cơ thể có thời gian chuyển hóa từ từ.
- Đa dạng hóa nguồn trái cây: Thay vì chỉ ăn một loại quả ngọt đậm, hãy tham khảo ý kiến chuyên gia dinh dưỡng để lựa chọn các loại hoa quả có hàm lượng kali thấp hơn nhằm làm phong phú khẩu phần mà không làm tăng kali máu đột ngột.
- Tuân thủ điều trị y tế: Người bệnh tuyệt đối không được tự ý bỏ các thuốc bảo vệ thận tim mạch đã được bác sĩ chỉ định dù biết thuốc có nguy cơ làm tăng kali [1], [5]. Thay vào đó, việc dùng thuốc gắn kali hay điều chỉnh liều phải do bác sĩ chuyên khoa quyết định [1], [4].
Tóm lại, mít là loại trái cây thơm ngon nhưng có thể trở thành mối đe dọa đối với người bệnh thận nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Hiểu đúng tình trạng suy giảm chức năng thận của bản thân và kiểm soát nghiêm ngặt lượng ăn đưa vào sẽ giúp người bệnh phòng tránh hiệu quả biến chứng tăng kali máu nguy hiểm. Hãy luôn chủ động trao đổi với bác sĩ điều trị và chuyên gia dinh dưỡng để xây dựng một thực đơn an toàn, khoa học nhất cho sức khỏe của chính mình.




