Nhiều người cao tuổi tìm đến chế độ ăn cắt giảm tinh bột (low-carb) với hy vọng kiểm soát đường huyết và giảm mỡ thừa nhanh chóng. Tuy nhiên, việc sụt cân nhanh do kiêng khem quá mức đang làm dấy lên nỗi lo về tình trạng teo cơ và xốp xương.

Liệu người lớn tuổi áp dụng lối ăn này có thực sự đối mặt với nguy cơ suy giảm cơ bắp và xương khớp? Các bằng chứng khoa học cho thấy khi cân nặng và chỉ số khối cơ thể (BMI) giảm quá thấp, người cao tuổi đối mặt với nguy cơ rất cao bị mất khối lượng cơ đi kèm loãng xương, mở đường cho biến chứng tàn phế [1].

Trục liên kết cơ bắp và mật độ xương ở người già

Cấu trúc xương và sức mạnh cơ bắp đảm bảo khả năng vận động thiết yếu của con người, nhưng cả hai đều suy thoái dần theo tuổi tác [1]. Khi cơ bắp teo nhỏ và yếu đi (sarcopenia), mật độ khoáng của xương (BMD) cũng có xu hướng giảm theo [1].

Hai tình trạng này nếu xảy ra đồng thời được gọi là hội chứng tiêu cơ - loãng xương (osteosarcopenia), ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực sinh hoạt thường nhật như đứng lên, ngồi xuống hay leo cầu thang [1]. Sự suy kiệt kép này đẩy người lớn tuổi vào vòng xoáy nguy hiểm của té ngã và gãy xương [1].

Cơ bắp và hệ xương chịu tác động cơ học trực tiếp từ trọng lượng cơ thể. Khi áp dụng các biện pháp giảm cân khắt khe như low-carb không đúng cách khiến chỉ số khối cơ thể sụt nhanh, hệ cơ và xương sẽ mất đi lực kích thích cần thiết để duy trì mật độ khoáng chất [1].

Nghiên cứu phân tích gộp về chỉ số khối cơ thể và hội chứng osteosarcopenia

Một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp công bố năm 2023 đã tổng hợp dữ liệu từ 8 công trình với tổng cộng 18.783 người trên 60 tuổi [1]. Các nhà khoa học đã sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên để đánh giá mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể (BMI), teo cơ và mật độ khoáng của xương [1].

Kết quả cho thấy ở những bệnh nhân teo cơ, mật độ khoáng xương toàn bộ vùng háng (d = 0,560; khoảng tin cậy 95% [CI], 0,438 đến 0,681; p < 0,01) thấp hơn rõ rệt so với người đối chứng [1]. Tình trạng giảm mật độ xương tương tự cũng ghi nhận tại cổ xương đùi (d = 0,522; 95% CI, 0,423 đến 0,621; p < 0,01) và cột sống thắt lưng (d = 0,295; 95% CI, 0,111 đến 0,478; p < 0,01) [1].

Đáng chú ý, chỉ số BMI có mối tương quan chặt chẽ với mật độ khoáng xương ở cả ba vị trí háng, cổ xương đùi và cột sống thắt lưng (d = 0,711; 95% CI, 0,456 đến 0,996; p < 0,01) [1]. Những người bị teo cơ kèm mật độ khoáng xương thấp cũng là nhóm có lượng mỡ và cân nặng thấp [1]. Các tác giả kết luận rằng BMI thấp là yếu tố then chốt thúc đẩy quá trình chuyển biến từ teo cơ đơn thuần sang hội chứng tiêu cơ - loãng xương [1].

Nguy cơ nhập viện và tử vong khi cơ và xương cùng suy yếu

Tác động lâm sàng của hội chứng tiêu cơ kèm loãng xương không chỉ dừng lại ở khó khăn vận động. Nghiên cứu OsteoSys công bố năm 2024 theo dõi dọc tiền cứu tại nhiều trung tâm trên 572 bệnh nhân lớn tuổi nằm viện (độ tuổi trung bình 75,1 ± 10,8 tuổi, 78% là nữ) trong vòng 3 năm [2]. Tình trạng cơ và xương được đo bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA) [2].

Trong số người tham gia, 76% bị giảm mật độ khoáng xương, 9% bị teo cơ và 8% mắc đồng thời cả hai tình trạng [2]. Kết quả sau 3 năm theo dõi cho thấy người mắc hội chứng osteosarcopenia có tỷ lệ tử vong lên tới 46% (p < 0,001) và tỷ lệ tái nhập viện ngoài kế hoạch là 86% (p < 0,001) [2].

Để so sánh, nhóm người cao tuổi khỏe mạnh không bị teo cơ hay loãng xương chỉ có tỷ lệ tử vong 3 năm là 9% (p < 0,001) và tái nhập viện là 53% (p < 0,001) [2]. Mắc hội chứng cơ xương kết hợp làm tăng 30% nguy cơ tử vong so với người chỉ bị teo cơ đơn thuần và tăng 8% so với người chỉ giảm mật độ xương đơn thuần (p = 0,009) [2].

Bằng chứng về nguy cơ té ngã và gãy xương ngoài cột sống

Nguy cơ chấn thương ở người lớn tuổi gia tăng rõ rệt khi các thành phần cơ thể bị xáo trộn. Một phân tích gộp năm 2021 bao gồm 26 nghiên cứu với 37.124 người tham gia (trong đó 17 nghiên cứu với 31.540 người được phân tích định lượng) đã kiểm tra tình trạng béo phì thiểu cơ [3]. Kết quả cho thấy nhóm này có tỷ lệ gãy xương ngoài đốt sống cao hơn hẳn so với người chỉ bị teo cơ (tỷ số tỷ lệ mới mắc IRR: 1,88; 95% CI: 1,09 đến 3,23) và tăng nguy cơ té ngã so với nhóm đối chứng (tỷ số nguy cơ RR: 1,30; 95% CI: 1,10 đến 1,54) [3].

Mối liên hệ giữa tình trạng suy giảm cơ xương và chấn thương gãy xương cũng được chứng minh trong một nghiên cứu quan sát tiền cứu dài hạn tại Mỹ công bố năm 2016 [4]. Nghiên cứu theo dõi 5.544 nam giới (trung bình 73,7 tuổi, theo dõi 9 năm) và 1.114 phụ nữ (trung bình 77,6 tuổi, theo dõi 8 năm) từ 65 tuổi trở lên [4].

Kết quả chỉ ra rằng so với nam giới có xương và cơ bình thường, những người vừa teo cơ vừa giảm mật độ xương có tỷ số nguy cơ (HR) gãy xương ngoài cột sống lên tới 3,79 (95% CI: 2,65 đến 5,41) [4]. Con số này cao vượt trội so với nhóm chỉ bị giảm mật độ xương đơn thuần (HR: 1,67; 95% CI: 1,45 đến 1,93) hoặc nhóm chỉ bị teo cơ đơn thuần (HR: 1,14; 95% CI: 0,62 đến 2,09) [4]. Ở phụ nữ, nhóm suy giảm cả cơ và xương cũng có nguy cơ gãy xương cao gấp 2,27 lần (HR: 2,27; 95% CI: 1,37 đến 3,76) [4].

Mối liên hệ đa chiều giữa khối cơ, sức nắm và mật độ khoáng chất xương

Sự gắn kết mật thiết giữa khối lượng cơ bắp và xương được xác nhận trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Nghiên cứu cắt ngang năm 2020 trên người lớn tuổi nhiễm HIV từ 50 tuổi trở lên ghi nhận chỉ số khối cơ xương tứ chi (ASMI) đo bằng DEXA có tương quan thuận rõ rệt với mật độ xương ở cổ xương đùi (r = 0,49, p < 0,01), toàn bộ háng (r = 0,54, p < 0,01) và cột sống thắt lưng (r = 0,48, p < 0,05) [5]. Chỉ số cơ ASMI ở nhóm mật độ xương thấp cũng kém hơn rõ rệt so với người có mật độ xương bình thường (p = 0,02) [5].

Tương tự, nghiên cứu năm 2021 trên 5.476 đối tượng (tuổi trung bình 65,7 ± 6,4) cho thấy người cao tuổi ở giai đoạn tiền teo cơ hoặc teo cơ có mật độ khoáng xương thấp hơn người bình thường ở nhiều chủng tộc, nổi bật nhất ở người da đen không thuộc gốc Tây Ban Nha, tiếp đến là người da trắng và người gốc Á [6].

Không chỉ khối lượng cơ, lực cơ cũng là tấm gương phản chiếu chất lượng xương. Một nghiên cứu năm 2025 khảo sát 495 bệnh nhân gan mạn tính chỉ ra rằng loãng xương liên quan mật thiết đến chỉ số BMI thấp (< 20) và lực nắm bàn tay yếu (< 18 kg ở nữ và < 28 kg ở nam) [7]. Ở nhóm đánh giá thành phần cơ thể, loãng xương đi kèm với khối cơ xương thấp (< 86 cm² ở nữ và < 116 cm² ở nam) [7].

Nghiên cứu năm 2019 trên người cao tuổi mắc đái tháo đường tại Nhật Bản cũng chỉ ra rằng tỷ lệ teo cơ tương quan thuận với lượng khoáng chất trong xương ở cả hai giới [8]. Đặc biệt, mức kiểm soát đường huyết (chỉ số HbA1c) không có mối liên hệ với tỷ lệ mắc teo cơ, chứng minh rằng chỉ kiểm soát đường huyết thôi là không đủ để bảo vệ khối cơ trước sự lão hóa [8].

Những hiểu lầm thường gặp khi người già ăn kiêng

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "càng gầy càng sống thọ", khiến nhiều người cao tuổi vội vã cắt bỏ phần lớn tinh bột để ép cân. Thực tế khoa học chỉ ra chỉ số khối cơ thể (BMI) quá thấp làm tăng mạnh rủi ro chuyển từ teo cơ sang osteosarcopenia, khiến cơ thể dễ gãy xương khi va chạm nhẹ [1].

Một lầm tưởng khác là cho rằng ăn kiêng low-carb chỉ làm hao mòn mỡ thừa. Khi lượng tinh bột bị siết quá chặt mà khẩu phần không bù đủ năng lượng và protein, cơ thể bắt buộc phải dị hóa chính khối cơ bắp để tạo năng lượng hoạt động, làm suy yếu lực cơ và kéo theo tụt giảm mật độ khoáng của xương [1, 8].

Nhiều người có bệnh đái tháo đường cũng tin rằng việc hạ đường huyết bằng kiêng khem là mục tiêu tối thượng. Dữ liệu thực tế cho thấy tỷ lệ teo cơ không phụ thuộc vào chỉ số HbA1c, do đó việc nhịn ăn cực đoan để ép chỉ số đường huyết vô tình đẩy nhanh tốc độ mất cơ xương mà không đem lại lợi ích phòng ngừa lão hóa [8].

Nhóm người cao tuổi cần đặc biệt thận trọng

Những người lớn tuổi có thể trạng gầy gò, nhẹ cân hoặc có chỉ số BMI dưới 20 tuyệt đối không nên tự ý áp dụng các thực đơn kiêng khem giảm cân khắt khe [7]. Sụt giảm thêm cân nặng ở nhóm này sẽ trực tiếp đe dọa độ chắc khỏe của khung xương [1].

Người đã từng được chẩn đoán mật độ xương thấp, loãng xương, tiền teo cơ hoặc người có lực cầm nắm yếu cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa [6, 8]. Việc tự ý áp dụng low-carb có thể làm suy kiệt nhanh sức cơ, tăng nguy cơ ngã và chấn thương gãy xương [3, 7].

Bệnh nhân mắc các bệnh lý mạn tính như đái tháo đường hoặc bệnh gan mạn tính cần được theo dõi y tế chặt chẽ [5, 8]. Mọi can thiệp dinh dưỡng ở người có bệnh nền cần đặt dưới sự hướng dẫn của chuyên gia để tránh biến chứng suy dinh dưỡng cơ xương.

Hướng dẫn chăm sóc cơ xương và dinh dưỡng cân bằng

Để bảo tồn khối cơ và khung xương, người cao tuổi không nên nhịn ăn tinh bột cực đoan. Thay vì cắt bỏ hoàn toàn, hãy chuyển sang các loại ngũ cốc nguyên cám, yến mạch, các loại đậu hoặc khoai củ với khẩu phần vừa phải để giữ mức năng lượng nền ổn định mà không gây tăng vọt đường huyết.

Khẩu phần hàng ngày cần chú trọng bổ sung đầy đủ chất đạm chất lượng cao từ thịt nạc, cá, trứng, sữa và đậu nành để tái tạo tế bào cơ. Cần chú ý nạp đủ vi chất, đặc biệt là canxi và vitamin D, bởi sự thiếu hụt vitamin D rất phổ biến ở người cao tuổi và ảnh hưởng tiêu cực đến khối cơ lẫn sức mạnh cơ bắp [8].

Bên cạnh dinh dưỡng, người cao tuổi cần duy trì các bài tập kháng lực phù hợp như nâng tạ nhẹ, tập với dây kháng lực hoặc các bài tập giữ thăng bằng. Luyện tập vận động đều đặn là kích thích vật lý bắt buộc giúp duy trì lực nắm tay, bảo tồn cơ bắp và làm chậm tiến trình loãng xương [4, 8].

Duy trì một thể trạng cân đối, tránh để chỉ số BMI giảm quá thấp là nguyên tắc sống còn đối với sức khỏe người cao tuổi [1]. Thay vì theo đuổi các trào lưu ăn kiêng cực đoan, chế độ ăn đủ chất kết hợp rèn luyện sức bền và theo dõi y khoa định kỳ mới là chìa khóa giúp người già giữ vững hệ cơ xương dẻo dai.