Nhiều người Việt có thói quen sắc hoàng kỳ uống hằng ngày hoặc hầm cùng các món canh bổ dưỡng để tăng cường sinh lực, bồi bổ khí huyết khi cơ thể suy nhược. Tuy nhiên, trước các ca mổ theo kế hoạch từ nhổ răng, cắt amidan đến đại phẫu ổ bụng, việc tiếp tục uống vị thuốc này lại là mối băn khoăn lớn của không ít gia đình.
Người sắp phẫu thuật nên chủ động thông báo với bác sĩ điều trị và tạm dừng sử dụng hoàng kỳ cũng như các loại thảo dược bổ dưỡng trước ngày can thiệp ngoại khoa. Việc kiểm soát chức năng đông cầm máu chu phẫu đòi hỏi sự tính toán vô cùng chặt chẽ, bởi bất kỳ sự can thiệp nào làm thay đổi phản ứng đông máu đều có thể đẩy bệnh nhân vào tình thế xuất huyết nguy hiểm trong và sau mổ.
Nỗi lo chảy máu trong và sau can thiệp ngoại khoa
Trong phẫu thuật ngoại khoa, kiểm soát cầm máu là một trong những mục tiêu sống còn để bảo đảm an toàn tính mạng cho người bệnh. Khi can thiệp rạch da hay bóc tách mô, cơ thể kích hoạt hệ thống đông máu tự nhiên để tạo cục máu đông bịt kín các vi mạch tổn thương. Nếu quá trình này bị cản trở bởi các hoạt chất sinh học ngoại lai, vết thương sẽ khó cầm máu, dẫn đến mất máu cấp tính ngay trên bàn mổ.
Tình trạng xuất huyết trong mổ còn tiềm ẩn rủi ro kéo theo các biến chứng muộn sau khi bệnh nhân đã rời phòng mổ. Điển hình trong lĩnh vực phẫu thuật miệng và nhổ răng, nghiên cứu trên 179 bệnh nhân với 293 thủ thuật cho thấy tình trạng chảy máu tăng trong chu phẫu khiến nguy cơ xuất huyết muộn sau mổ tăng gấp 8,8 lần so với các ca phẫu thuật không bị chảy máu kéo dài [1]. Các biến chứng sau mổ cũng ghi nhận mối liên quan đáng kể với hiện tượng chảy máu gia tăng trong lúc mổ với chỉ số p = 0,043 [1].
Đối với những ca phẫu thuật lớn ở vùng cổ họng hay vùng ngực, chảy máu không chỉ gây tụt huyết áp mà còn đe dọa trực tiếp đường thở và chức năng hô hấp. Trong phẫu thuật tai mũi họng, rủi ro chảy máu trong mổ ở mức cao nhất thường tập trung vào các phẫu thuật cắt u qua đường miệng, cắt amidan, phẫu thuật tuyến giáp và u cuộn cảnh [2]. Trong khi đó, ở khoang lồng ngực, thể tích rộng lớn và áp lực âm từng phần khiến nguy cơ chảy máu trong và sau mổ luôn ở mức đáng báo động nếu chức năng đông máu bị rối loạn [3].
Cơ chế thăng bằng mong manh giữa chảy máu và huyết khối
Quản lý bệnh nhân chu phẫu luôn là bài toán cân bằng vô cùng nhạy cảm giữa nguy cơ chảy máu quá mức và nguy cơ hình thành cục máu đông gây tắc mạch [4]. Khi phẫu thuật diễn ra, cơ thể rơi vào trạng thái tiền huyết khối phản ứng, chức năng nội mô bị rối loạn có thể thúc đẩy mảng xơ vữa nứt vỡ, co thắt mạch phản ứng và tạo huyết khối [4]. Vì thế, can thiệp vào quá trình đông máu nếu không có chỉ định y khoa chuẩn xác sẽ phá vỡ thế cân bằng tự nhiên này.
Các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng việc can thiệp bằng các liệu pháp chống đông hay kháng tiểu cầu luôn đi kèm ranh giới an toàn rất hẹp. Chẳng hạn, một thử nghiệm ngẫu nhiên lớn (POISE-2) ghi nhận dùng aspirin chu phẫu làm giảm nguy cơ đột quỵ nhưng lại liên quan trực tiếp đến sự gia tăng các biến cố chảy máu lớn [4]. Ngược lại, nếu ngừng thuốc đột ngột hoặc cơ thể chịu các tác động kích thích đông máu phản ứng, nguy cơ thuyên tắc mạch vẫn hiện hữu; tỷ lệ thuyên tắc huyết khối động mạch chu phẫu khi bắc cầu thuốc chống đông dao động từ 0,4% đến 1,5% [5].
Chính vì cơ chế đông - cầm máu là một chuỗi phản ứng sinh hóa mắt xích, việc bổ sung thảo dược có hoạt tính sinh học chưa được kiểm soát chặt chẽ có thể gây nhiễu loạn phản ứng ngưng tập tiểu cầu hoặc tương tác ngoài ý muốn với các yếu tố đông máu. Thầy thuốc cần một hệ thống tuần hoàn có khả năng đông cầm máu tự nhiên ổn định nhất để xử trí các tình huống cắt lọc hay khâu nối mạch máu.
Nghiên cứu ngoại khoa cảnh báo rủi ro biến chứng xuất huyết
Các công trình nghiên cứu quy mô lớn trên thế giới đã xác định rõ mức độ nguy hiểm của các yếu tố làm gia tăng chảy máu chu phẫu đối với tính mạng người bệnh.
Một thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên thực hiện trên 3.809 bệnh nhân trải qua đại phẫu ổ bụng có sử dụng heparin dự phòng huyết khối đã làm sáng tỏ các yếu tố nguy cơ dẫn đến biến cố xuất huyết nghiêm trọng [6]. Kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy nguy cơ chảy máu tăng lên rõ rệt ở bệnh nhân nam với tỷ số chênh hiệu chỉnh ORa là 1,68 (khoảng tin cậy 95%: 1,21 - 2,34; p = 0,003), bệnh nhân mắc bệnh ác tính với ORa là 1,69 (KTC 95%: 1,21 - 2,34; p = 0,008), phẫu thuật phụ khoa với ORa là 1,62 (KTC 95%: 1,12 - 2,35; p = 0,011) và các ca phẫu thuật phức tạp với ORa lên đến 2,7 (KTC 95%: 2,02 - 3,62; p < 0,001) [6]. Tỷ lệ chảy máu quá mức tăng lũy tiến từ 2% ở người không có yếu tố nguy cơ lên 6% khi có 1 yếu tố, 11% khi có 2 yếu tố và vọt lên 21% khi hội tụ đủ 3 yếu tố nguy cơ [6].
Bên cạnh đó, việc điều chỉnh thuốc chống đông chu phẫu không đúng mức cũng để lại hậu quả nặng nề. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu có bắt cặp năm 2020 trên 526 bệnh nhân (263 cặp) phẫu thuật ngoại tổng quát và tiêu hóa cho thấy việc dùng phác đồ bắc cầu chống đông bằng heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) liều điều trị đầy đủ đã làm tăng vọt biến cố chảy máu sau mổ [7]. Tỷ lệ chảy máu lớn ở nhóm dùng phác đồ bắc cầu là 8%, cao gấp 8 lần so với mức 1% ở nhóm chứng (p < 0,001), đồng thời tỷ lệ chảy máu nhẹ cũng tăng từ 5% lên 14% (p < 0,001) [7]. Đáng lưu ý, nguy cơ thuyên tắc mạch ở hai nhóm không có sự khác biệt (1% so với 2%, p = 0,45) và tỷ lệ tử vong tương đương (1,5% so với 1,9%) [7].
Nguy cơ xuất huyết chu phẫu còn trở nên đặc biệt trầm trọng ở những bệnh nhân có bệnh nền chuyển hóa hoặc suy giảm chức năng đào thải. Một khảo sát công bố năm 2024 từ cơ sở dữ liệu NSQIP trên 9.102 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối phải chạy thận nhân tạo trải qua phẫu thuật bụng không chọn lọc đã ghi nhận có tới 2.793 trường hợp (chiếm 30,7%) bị chảy máu lớn chu phẫu cần truyền khối hồng cầu trong vòng 72 giờ đầu sau mổ [8]. Biến cố này đi kèm với tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày lên đến 22,0% (2.002 người) [8]. Nghiên cứu chỉ ra nguy cơ chảy máu lớn chu phẫu cao vọt ở các phẫu thuật can thiệp tạng đặc: mổ gan có nguy cơ cao gấp 18,09 lần (OR = 18,09), mổ lách cao gấp 10,86 lần (OR = 10,86) và phẫu thuật tụy cao gấp 9,59 lần (OR = 9,59) so với phẫu thuật thoát vị bẹn [8].
Các số liệu thực chứng trên chứng minh rằng cầm máu chu phẫu luôn là thử thách sống còn của bác sĩ ngoại khoa. Bất kỳ tác nhân nào làm tăng thêm nguy cơ rỉ máu hay kéo dài thời gian đông máu đều khiến cuộc mổ trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn gấp bội.
Hiểu lầm phổ biến khi dùng hoàng kỳ trước ngày lên bàn mổ
Quan niệm "thuốc bổ từ cỏ cây thảo mộc thì vô hại" là một trong những hiểu lầm thường gặp nhất ở bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật. Nhiều người cho rằng hoàng kỳ chỉ là rễ củ tự nhiên, giúp bồi bổ nguyên khí, chống mệt mỏi nên uống càng nhiều trước mổ thì sau mổ cơ thể càng nhanh hồi phục.
Thực tế lâm sàng cho thấy các dược liệu Đông y chứa hàng trăm hợp chất hóa thực vật có hoạt tính sinh học đa dạng. Khi đi vào tuần hoàn, các hoạt chất này có thể tác động đến thành mạch, hệ miễn dịch và khả năng đông máu. Khi người bệnh tự ý dùng hoàng kỳ liều cao hoặc sắc uống đậm đặc sát ngày phẫu thuật, bác sĩ gây mê và phẫu thuật viên sẽ khó tiên lượng được độ ổn định của quá trình đông máu tự nhiên.
Một sai lầm nguy hại khác là bệnh nhân thường giấu hoặc quên không báo với bác sĩ về việc mình đang uống hoàng kỳ, nước sắc thảo dược hay các viên thực phẩm chức năng bổ trợ. Họ chỉ khai báo các loại thuốc Tây y kê đơn mà không biết rằng việc kết hợp thảo dược không rõ kiểm soát có thể gây ra tương tác bất lợi. Trong nghiên cứu phẫu thuật miệng, việc kết hợp đồng thời các liệu pháp tác động lên đông máu (như chống đông phối hợp kháng tiểu cầu) đã làm tăng vọt nguy cơ chảy máu sau thủ thuật với ý nghĩa thống kê rất rõ (p < 0,001) [1].
Việc tự ý bồi dưỡng bằng hoàng kỳ trước phẫu thuật không giúp vết mổ nhanh lành hơn mà trái lại, có thể gây khó khăn cho việc cầm máu tại chỗ, dẫn đến hình thành các khối máu tụ dưới da hoặc nhiễm trùng vết mổ thứ phát.
Những nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng với rủi ro chảy máu
Tất cả người bệnh chuẩn bị can thiệp ngoại khoa đều cần cảnh giác, nhưng có những nhóm đối tượng mang đặc điểm nguy cơ xuất huyết cao hơn hẳn người bình thường và cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Trước hết là nhóm bệnh nhân cao tuổi mắc các bệnh lý tim mạch, rối loạn nhịp tim hoặc từng bị tai biến mạch máu não. Trong các ca phẫu thuật tổng quát, có tới 14% trường hợp đột quỵ chu phẫu liên quan trực tiếp đến chứng rung nhĩ [4]. Những bệnh nhân này thường đang phải duy trì thuốc chống đông máu hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu [2, 5]. Việc dùng thêm bất kỳ thảo mộc nào có khả năng can thiệp vào dòng thác đông máu đều có thể làm tăng vọt nguy cơ xuất huyết không kiểm soát được.
Nhóm đối tượng thứ hai là những người mắc bệnh mạn tính nặng như ung thư hoặc suy giảm chức năng thận. Nghiên cứu lâm sàng đã xác định bệnh ác tính làm tăng nguy cơ chảy máu đại phẫu ổ bụng với ORa là 1,69 [6], và bệnh nhân ung thư vùng tai mũi họng có tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch hoặc thuyên tắc mạch chu phẫu tăng vọt lên mức 6% so với 1% ở người không mắc ung thư [2]. Đối với bệnh nhân suy thận, suy giảm đào thải dẫn đến tích tụ độc chất, kéo dài thời gian thromboplastin một phần (PTT), tăng urê máu (BUN), gây thiếu máu và hạ albumin máu – tất cả đều là những yếu tố liên quan chặt chẽ đến biến cố chảy máu lớn sau mổ [8]. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc steroid kéo dài ở bệnh nhân bệnh tự miễn cũng làm tăng nguy cơ chảy máu chu phẫu cần truyền máu [8].
Cuối cùng là những người chuẩn bị bước vào các ca mổ phức tạp, phẫu thuật lồng ngực, cắt ghép tạng hoặc đại phẫu tiêu hóa [3, 5, 8]. Ở những vị trí phẫu trường lớn, diện bóc tách rộng, việc duy trì cơ chế cầm máu tự nhiên nguyên vẹn là yếu tố then chốt giúp người bệnh vượt qua phẫu thuật an toàn.
Hướng dẫn áp dụng thực tế và chuẩn bị an toàn trước mổ
Để bảo đảm một cuộc phẫu thuật an toàn và thuận lợi, người bệnh cần tuân thủ các bước chuẩn bị y khoa bài bản thay vì tự ý dùng các bài thuốc bổ lưu truyền trong dân gian.
Quy tắc quan trọng nhất là lập danh sách chi tiết tất cả các loại thuốc, thảo dược, rễ cây, trà sâm và thực phẩm chức năng đang dùng để xuất trình cho bác sĩ trong buổi khám tiền phẫu. Nếu đang sử dụng hoàng kỳ dưới bất kỳ hình thức nào (thuốc sắc, trà túi lọc, bột nghiền, viên nang hay món ăn bài thuốc), người bệnh cần thông báo rõ liều lượng và thời gian đã sử dụng.
Các chuyên gia phẫu thuật khuyến cáo bệnh nhân nên tạm ngừng uống hoàng kỳ và hầu hết các thảo dược bổ trợ ít nhất 1 đến 2 tuần trước ngày dự kiến phẫu thuật. Khoảng thời gian này giúp cơ thể chuyển hóa và đào thải hoàn toàn các hợp chất sinh học ra khỏi hệ tuần hoàn, cho phép hệ thống đông máu và chức năng gan thận trở về trạng thái sinh lý chuẩn mực.
Trong thời gian chờ mổ, thay vì tìm kiếm các vị thuốc bồi bổ phức tạp, người bệnh nên tập trung vào chế độ dinh dưỡng lành mạnh, ăn thức ăn chín mềm, cân đối các nhóm chất, uống đủ nước và ngủ đủ giấc. Sau khi phẫu thuật hoàn tất, vết mổ đã lành sẹo tốt và các chỉ số sinh hóa ổn định, người bệnh vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị trước khi muốn sử dụng lại hoàng kỳ để bồi dưỡng thể lực.
Việc chuẩn bị cho một ca phẫu thuật đòi hỏi sự thận trọng cao nhất từ cả nhân viên y tế lẫn người bệnh. Dừng uống hoàng kỳ trước ngày lên bàn mổ là biện pháp phòng ngừa đơn giản nhưng mang ý nghĩa sống còn giúp hạn chế tối đa rủi ro chảy máu nguy hiểm. Hãy chủ động trao đổi trung thực với bác sĩ về mọi sản phẩm thảo dược bạn đang dùng để ca mổ diễn ra an toàn và quá trình hồi phục đạt kết quả tốt nhất.




