Nhiều người mua hà thủ ô về nấu nước uống hoặc ngâm rượu để bồi bổ máu huyết, làm đen tóc. Tuy nhiên, trên thị trường thường xuất hiện cả tên gọi hà thủ ô đỏ lẫn hà thủ ô trắng, kèm theo nhiều sản phẩm chế biến khác nhau khiến người dùng bối rối không biết giá trị thực sự nằm ở đâu.

Thực chất, dược liệu chính thống được ghi nhận trong Dược điển Trung Quốc và các nghiên cứu khoa học quốc tế là loài Polygonum multiflorum Thunb. (thuộc họ Rau răm - Polygonaceae, chi Fallopia), tại Việt Nam thường gọi là hà thủ ô đỏ [1] [2]. Các tài liệu khoa học hiện tại tập trung phân tích thành phần hóa học, tác dụng dược lý và độc tính gan của Polygonum multiflorum cùng các sản phẩm chế biến của nó, chứ không coi các loại củ khác hay các chế phẩm mang tên gọi tương tự là hoàn toàn giống nhau [3] [2]. Thậm chí, ngay cả các chế phẩm từ chính Polygonum multiflorum như Ho Shou Wu, Zhi Shou Wu hay Shou Wu Pian đôi khi bị đánh đồng tên gọi, nhưng thành phần thực tế lại khác biệt tùy sản phẩm và cách chế biến [3] [2].

Phân biệt loài chuẩn và thành phần hóa học đặc trưng

Trong y học cổ truyền Đông Á, hà thủ ô chính thống có tên khoa học là Polygonum multiflorum Thunb., là một loài cây thân leo sống lâu năm thuộc họ Polygonaceae [1]. Tại Trung Quốc và Đông Á, dược liệu này được gọi là He shou wu, còn tại Bắc Mỹ gọi là Fo-ti [1]. Phần dùng làm thuốc là rễ củ của cây [3].

Giá trị dược liệu lẫn rủi ro của Polygonum multiflorum nằm ở hai nhóm hợp chất hóa học chính: nhóm anthraquinone (gồm các chất như chrysophanol, emodin, rhein) và nhóm stilbene glycoside (còn gọi là diphenylethylene glucoside, tiêu biểu là tetrahydroxystilbene-glucopyranoside) [4] [2]. Hàm lượng stilbene glucoside trong rễ củ và các sản phẩm chế biến của nó được dùng làm chỉ tiêu kiểm soát chất lượng dược liệu bằng phương pháp quang phổ đạo hàm bậc nhất [5].

Đáng chú ý, trên thị trường, các sản phẩm chứa Polygonum multiflorum như Ho Shou Wu, Shen Min, Shou Wu Pian và Zhi Shou Wu đôi khi bị tuyên bố là có thể thay thế cho nhau [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2016 chỉ rõ thành phần hóa học thay đổi tùy từng sản phẩm, đòi hỏi phải định danh tên sản phẩm cụ thể chứ không thể đánh đồng công dụng [2].

Cơ chế tác động lên cơ thể: Lợi ích đi kèm rủi ro

Theo y học cổ truyền, rễ Polygonum multiflorum được dùng để nhuận tràng, thông tiện, giải độc, cắt cơn sốt rét, làm đẹp tóc, bổ máu, bồi bổ gan thận và tăng cường tuần hoàn máu [6] [3]. Các nghiên cứu dược lý hiện đại cũng ghi nhận tiềm năng của dược liệu này trong các bệnh lý như rụng tóc, xơ vữa động mạch, rối loạn mỡ máu, rối loạn giấc ngủ, tiểu đường, ung thư và bệnh thoái hóa thần kinh [1].

Về mặt bảo vệ thần kinh, cơ chế được ghi nhận liên quan đến enzym eNOS (endothelial nitric oxide synthase - enzym tổng hợp nitric oxide nội mô giúp giãn mạch và bảo vệ mạch máu) [7]. Tuy nhiên, song song với lợi ích, các hoạt chất anthraquinone và stilbene glycoside trong hà thủ ô lại trực tiếp gây độc tính cho gan thông qua nhiều cơ chế phức tạp [4] [2].

Cụ thể, tổng quan nghiên cứu năm 2024 cho thấy Polygonum multiflorum tác động tiêu cực đến quá trình phosphoryl hóa oxy hóa (quá trình tạo năng lượng của tế bào), cản trở bài tiết axit mật, làm rối loạn cân bằng miễn dịch và ảnh hưởng đến các con đường chuyển hóa tùy thuộc yếu tố di truyền [4]. Ngoài ra, dược liệu này còn làm rối loạn chuyển hóa năng lượng, axit amin và lipid tại gan, đồng thời ức chế hoặc cảm ứng hệ thống enzym cytochrome P450 (CYP450) - hệ enzym chịu trách nhiệm chuyển hóa thuốc tại gan [6] [8].

Nghiên cứu khoa học nói gì về tác dụng điều trị?

Một tổng quan năm 2014 đã dẫn lại nghiên cứu trên mô hình chuột bị tổn thương não do thiếu máu cục bộ (gây huyết khối bằng ánh sáng) [7]. Chuột được tiêm phúc mạc các dịch chiết hexane, ethyl acetate và methanol của Polygonum multiflorum với liều 100 mg/kg vào thời điểm 30 phút trước khi gây thiếu máu não [7]. Kết quả cho thấy dịch chiết hexane làm giảm đáng kể thể tích vùng nhồi máu não và giảm khiếm khuyết thần kinh so với các dịch chiết khác nhờ cơ chế phụ thuộc eNOS [7]. Giới hạn của thí nghiệm này là mới thực hiện trên chuột và dùng đường tiêm phúc mạc [7].

Trong ứng dụng lâm sàng trên người, Polygonum multiflorum thường không dùng đơn độc mà phối hợp với các vị thuốc khác để đạt hiệu quả tốt hơn [7]. Một nghiên cứu lâm sàng thực hiện trên 240 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) bị giảm bạch cầu sau hóa trị [7]. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm: nhóm điều trị (120 người) dùng bài thuốc Qishu decoction (chứa Polygonum multiflorum cùng hoàng kỳ, thục địa, đảng sâm, kỷ tử, a giao, đương quy, kê huyết đằng, cam thảo) và nhóm đối chứng (120 người) dùng thuốc tây Leucogen và Batilol [7]. Sau 10 ngày điều trị, tỷ lệ hiệu quả tổng thể ở nhóm dùng bài thuốc chứa hà thủ ô đạt 91,5%, cao hơn có ý nghĩa so với mức 72,8% ở nhóm đối chứng [7].

Một thử nghiệm khác trong cùng tài liệu đánh giá bài thuốc Buyanghuanw Pill Jiajian Fang kết hợp thuốc Madopar trên 60 bệnh nhân Parkinson (chia đều 2 nhóm, mỗi nhóm 30 người) trong 3 tháng, cho tỷ lệ hiệu quả 87,5% so với 77,5% ở nhóm chỉ dùng Madopar [7]. Tuy nhiên, thành phần bài thuốc này không liệt kê Polygonum multiflorum, và ở cả hai thử nghiệm lâm sàng, hà thủ ô (nếu có) đều nằm trong bài thuốc đa vị nên không thể quy kết hiệu quả cho riêng lẻ một dược liệu [7].

Bằng chứng thực nghiệm về độc tính gan và chuyển hóa

Nghiên cứu năm 2015 đánh giá ảnh hưởng của Polygonum multiflorum lên hệ enzym CYP450 trên chuột cống [6]. Chuột được chia thành 5 nhóm (mỗi nhóm 5 con đực và 5 con cái): nhóm chứng uống nước muối sinh lý, 2 nhóm uống dịch chiết cồn liều 15 g/kg và 30 g/kg, 2 nhóm uống dịch chiết nước liều 15 g/kg và 30 g/kg mỗi ngày một lần trong 28 ngày liên tiếp [6]. Sau đó, chuột được cho uống hỗn hợp 6 thuốc dò (bupropion, omeprazole, tolbutamide, phenacetin, midazolam, metoprolol) và lấy máu tĩnh mạch đuôi phân tích bằng sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS) [6]. Kết quả cho thấy dịch chiết cồn ức chế hoạt tính enzym CYP2C19, CYP2C9 và cảm ứng CYP1A2; trong khi dịch chiết nước ức chế cả 5 enzym CYP2B6, CYP2C19, CYP2C9, CYP1A2 và CYP2D6 [6].

Một nghiên cứu chuyển hóa chất (metabonomics) khác công bố năm 2015 sử dụng sắc ký khí khối phổ (GC-MS) để phân tích huyết thanh và mô gan chuột dùng dịch chiết nước và dịch chiết cồn của Polygonum multiflorum [8]. So với nhóm chứng, nhóm uống dịch chiết nước tăng nồng độ L-threonine, serine trong máu và tăng myo-inositol, axit oleic, cholesterol trong mô gan [8]. Nhóm uống dịch chiết cồn tăng 9,12-octadecadienoic acid, hexadecanoic acid, axit oleic, D-glucose, octadecanoic acid nhưng giảm mạnh axit lactic trong máu; đồng thời tăng mạnh myo-inositol, axit phosphoric, uridine, axit oleic, cholesterol, butanoic acid tại mô gan [8]. Cả hai nhóm đều giảm mạnh hexadecanoic acid, octadecanoic acid, ribitol và butanedioic acid trong gan [8]. Nghiên cứu kết luận dịch chiết cồn gây tổn thương gan nghiêm trọng hơn dịch chiết nước [8].

Trên người, báo cáo năm 2016 ghi nhận 3 bệnh nhân tại Hàn Quốc đã phải ghép gan sau khi sử dụng Polygonum multiflorum, và một phụ nữ 33 tuổi tại Slovakia bị tổn thương gan cấp tính sau 2 tháng dùng dược liệu này [2]. Một báo cáo của cơ quan quản lý dược phẩm Trung Quốc (CFDA) đã phân tích hồi cứu 24 ca tổn thương gan do Polygonum multiflorum trong y văn [2]. Đặc biệt, một nghiên cứu khác tại Trung Quốc sử dụng thang điểm RUCAM (phương pháp chuẩn đánh giá quan hệ nhân quả đặc hiệu cho gan) đã xác nhận 18 ca tổn thương gan có nguyên nhân "rất có thể" hoặc "có thể" là do Polygonum multiflorum sau khi đã loại trừ toàn bộ các nguyên nhân nhiễm trùng như virus viêm gan E (HEV) [2].

Hiểu lầm thường gặp: Hàng sống, hàng chế và ngâm rượu

Nhiều người lầm tưởng hà thủ ô tươi (sống) giữ được nhiều chất tự nhiên nhất nên tốt nhất, hoặc ngâm rượu uống sẽ bổ hơn nấu nước. Thực tế khoa học chứng minh điều ngược lại [3] [8].

Nghiên cứu năm 2020 đã kiểm tra sự thay đổi thành phần của Polygonum multiflorum sống và các sản phẩm qua thời gian chưng hấp (chế biến) khác nhau bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), đồng thời thử nghiệm trên tế bào gan người HepG2 và trên chuột [3]. Kết quả cho thấy khi kéo dài thời gian chế biến, hàm lượng một số thành phần hóa học tăng lên nhưng hàm lượng stilbene glucoside giảm xuống [3]. Trên cả tế bào HepG2 và chuột bình thường, hà thủ ô sống và chế phẩm đều có độc tính nhất định với gan, nhưng mức độ tổn thương gan tỷ lệ nghịch với thời gian chế biến (chưng hấp càng lâu, độc tính càng giảm) [3]. Đáng lưu ý, trên nhóm chuột đang bị tổn thương gan, cả hà thủ ô sống lẫn chế đều không mang lại hiệu quả điều trị rõ rệt [3].

Bên cạnh đó, thói quen ngâm rượu hà thủ ô cũng tiềm ẩn rủi ro lớn. Như nghiên cứu chuyển hóa năm 2015 đã chỉ ra, dịch chiết bằng cồn (rượu) của Polygonum multiflorum gây rối loạn chuyển hóa và hủy hoại mô gan nặng nề hơn so với dịch chiết bằng nước [8].

Ai nên thận trọng khi sử dụng hà thủ ô?

Nhóm đầu tiên cần đặc biệt thận trọng là người có bệnh lý về gan hoặc suy giảm chức năng gan. Dù mang tiếng là thảo dược "bổ gan thận", các bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng đều khẳng định Polygonum multiflorum có thể gây tổn thương gan cấp tính, thậm chí dẫn đến suy gan phải ghép gan [6] [2]. Trên mô hình chuột bị tổn thương gan, việc dùng dược liệu này cũng không cho thấy tác dụng chữa lành rõ ràng [3].

Nhóm thứ hai là người đang sử dụng thuốc tây điều trị bệnh mạn tính. Do cả dịch chiết nước và dịch chiết cồn của Polygonum multiflorum đều làm biến đổi hoạt tính của hàng loạt enzym chuyển hóa thuốc tại gan (CYP2B6, CYP2C19, CYP2C9, CYP1A2, CYP2D6), việc dùng chung hà thủ ô với thuốc tây (như thuốc dạ dày omeprazole, thuốc tim mạch metoprolol, thuốc tiểu đường tolbutamide, thuốc an thần midazolam, thuốc chống trầm cảm bupropion) sẽ làm thay đổi nồng độ thuốc trong máu, gây mất tác dụng hoặc tăng độc tính của thuốc [6].

Ngoài ra, độc tính gan của Polygonum multiflorum còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền và cơ địa chuyển hóa của từng cá nhân [4]. Do đó, người có cơ địa dị ứng hoặc tiền sử gia đình nhạy cảm với thuốc Đông y không nên tự ý sử dụng [4].

Cách áp dụng thực tế an toàn trong đời sống

Khi có nhu cầu sử dụng hà thủ ô, người tiêu dùng cần xác định rõ nguồn gốc dược liệu chuẩn là Polygonum multiflorum Thunb., không tự ý thay thế các loại củ không rõ nguồn gốc hoặc đánh đồng các chế phẩm thương mại khác nhau như Ho Shou Wu, Zhi Shou Wu hay Shou Wu Pian vì thành phần hoạt chất và độ an toàn của chúng không đồng nhất [1] [2].

Về cách chế biến, tuyệt đối không dùng hà thủ ô sống (tươi hoặc phơi khô chưa qua cửu chưng cửu sái/chưng hấp kỹ). Nghiên cứu khẳng định việc kéo dài thời gian chưng hấp giúp làm giảm hàm lượng stilbene glycoside - thủ phạm chính gây hại gan, từ đó giảm thiểu độc tính trên gan [3]. Người dùng cũng nên hạn chế tối đa việc dùng hà thủ ô ngâm rượu, bởi dịch chiết cồn gây hại cho gan mạnh hơn dịch chiết nước [8].

Về cách phối hợp và thời gian dùng, trong y học lâm sàng, hà thủ ô không được khuyến khích dùng độc vị (một mình) kéo dài mà phải phối hợp trong các bài thuốc đa vị theo chỉ định để tối ưu hiệu quả [7]. Ngay cả khi dùng đúng dược liệu, ca bệnh thực tế đã ghi nhận tổn thương gan cấp chỉ sau 2 tháng sử dụng liên tục [2].

Hà thủ ô là vị thuốc có giá trị dược lý nhưng đi kèm nguy cơ độc tính gan đã được khoa học chứng minh rõ ràng [4] [1]. Người dân không nên coi đây là thức uống giải khát hay thuốc bổ vô hại dùng hàng ngày. Trước khi sử dụng, đặc biệt ở người có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị, cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn liều lượng và theo dõi chức năng gan định kỳ.