Trong đời sống hàng ngày, nhiều gia đình có thói quen dùng thảo dược như thanh hao hoa vàng để hạ sốt, giải cảm vì tin rằng cây cỏ tự nhiên luôn lành tính. Khi mang thai, đặc biệt trong 3 tháng đầu, không ít thai phụ băn khoăn liệu có thể tiếp tục dùng loại thảo dược này thay cho thuốc tây hay không.
Câu trả lời ngắn gọn là không nên tự ý sử dụng. Hoạt chất chính chiết xuất từ thanh hao hoa vàng là artemisinin và các dẫn xuất của nó đã được ghi nhận gây độc cho phôi thai trên động vật thực nghiệm [1]. Trong y khoa hiện đại, nhóm hoạt chất này vốn bị chống chỉ định hoặc hạn chế tối đa trong 3 tháng đầu thai kỳ, chỉ được bác sĩ cân nhắc kê đơn dưới dạng thuốc chuẩn hóa để điều trị bệnh sốt rét khi thật sự cần thiết [2, 4].
Cơ chế gây hại cho phôi thai của hoạt chất artemisinin
Thanh hao hoa vàng là nguồn chiết xuất ra artemisinin – hoạt chất nền tảng trong các liệu pháp phối hợp thuốc chống sốt rét (gọi tắt là ACT) hiệu quả nhất hiện nay [7, 8]. Từ năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo dùng ACT làm thuốc đầu tay trị sốt rét cho trẻ em, người lớn và phụ nữ mang thai ở 3 tháng giữa cũng như 3 tháng cuối [3, 7]. Tuy nhiên, ở 3 tháng đầu thai kỳ, nhóm chất này từ lâu bị cảnh báo vì nguy cơ gây độc phôi thai và dị tật bẩm sinh [2].
Các nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật cho thấy artemisinin và dẫn xuất tác động trực tiếp vào giai đoạn hình thành cơ quan của phôi [1]. Cụ thể, trên khỉ, dẫn xuất artesunate gây ra tình trạng thiếu máu phôi nghiêm trọng, dẫn đến chết phôi [3]. Ngoài ra, các tổn thương ghi nhận trên động vật còn bao gồm hiện tượng tiêu phôi, mất thai và dị tật bẩm sinh ở hệ xương (như xương dài hoặc xương bả vai bị ngắn, cong; xương sườn biến dạng; chẻ xương ức; xương chậu cốt hóa không hoàn toàn) cùng dị tật tim như thông liên thất [2].
Mức độ tổn thương phôi thai phụ thuộc chặt chẽ vào hai yếu tố: liều lượng thuốc và thời điểm phơi nhiễm [1]. Trong cơ thể phụ nữ mang thai, artemisinin được chuyển hóa nhanh hơn so với người bình thường [4]. Dù vậy, giai đoạn từ tuần thai thứ 6 đến tuần thứ 8 (hoặc kéo dài đến tuần 12) được xác định là "giai đoạn phôi nhạy cảm", khi các cơ quan đang phân chia mạnh nên rất dễ tổn thương trước tác động của hóa chất [1, 4].
Cảnh báo từ nghiên cứu động vật và quan điểm thận trọng
Một tổng quan hệ thống công bố năm 2020 đã rà soát các nghiên cứu trên động vật xuất bản từ năm 2007 đến năm 2019 nhằm đánh giá độc tính phôi của artemisinin và dẫn xuất trên động vật có vú mang thai [1]. Qua phân tích 18 nghiên cứu thực nghiệm đạt tiêu chuẩn trên chuột, thỏ và khỉ, các nhà khoa học xác nhận hoạt chất này gây chết phôi và độc phôi nghiêm trọng phụ thuộc liều khi dùng trong giai đoạn hình thành cơ quan [1]. Nhóm nghiên cứu nhận định việc suy diễn dữ liệu từ động vật sang người mang thai vẫn rất đáng lo ngại, do đó chưa nên vội vàng thay đổi chính sách dùng thuốc đại trà ở 3 tháng đầu nếu thiếu hệ thống cảnh giác dược chặt chẽ [1].
Đồng quan điểm thận trọng, một phân tích công bố năm 2022 nhắc lại rằng Hướng dẫn điều trị sốt rét năm 2021 của WHO vẫn giữ lập trường: chưa có đủ dữ liệu an toàn lâm sàng để ủng hộ dùng đại trà artemisinin cho sốt rét không biến chứng ở 3 tháng đầu [3]. Bài phân tích chỉ ra bốn lỗ hổng lớn trong các dữ liệu hiện có trên người [3].
Thứ nhất, các phân tích gộp thường gom chung kết quả của nhiều loại thuốc ACT khác nhau, không chứng minh được từng loại riêng lẻ đều an toàn như nhau [3]. Thứ hai, dữ liệu bị gộp chung cho toàn bộ 3 tháng đầu mà không tách riêng từng giai đoạn nhỏ 1-2 tuần, đặc biệt là tuần thai 6-8 vốn nhạy cảm nhất [3]. Thứ ba, việc không thấy tăng tỷ lệ sẩy thai của một thuốc không đồng nghĩa thuốc đó không gây ảnh hưởng phát triển lâu dài; hậu quả dài hạn của tình trạng thiếu máu phôi mức độ thấp vẫn chưa được biết rõ [3]. Thứ tư, các xét nghiệm chẩn đoán nhanh ngày càng nhạy giúp phát hiện bệnh ở tuổi thai rất sớm – giai đoạn ít được nghiên cứu và phôi thai có thể nhạy cảm hơn với artemisinin [3].
Nghiên cứu trên người nói gì khi bắt buộc dùng thuốc trị bệnh?
Mặc dù dữ liệu động vật rất đáng ngại, bản thân bệnh sốt rét trong thai kỳ lại cực kỳ nguy hiểm. Nhiễm ký sinh trùng sốt rét khi mang thai dẫn đến thai chậm tăng trưởng trong tử cung, nhẹ cân, sẩy thai tự nhiên, thai lưu, tiền sản giật, thiếu máu mẹ và tử vong mẹ [4]. Do đó, nhiều nghiên cứu quan sát lớn đã được thực hiện để xem xét hậu quả ở những phụ nữ vô tình hoặc bắt buộc dùng thuốc chứa dẫn xuất artemisinin trong 3 tháng đầu so với thuốc cổ điển là quinine.
Một nghiên cứu đoàn hệ quan sát năm 2014 theo dõi phụ nữ mang thai dưới 20 tuần tuổi thai đến khi sinh [5]. Trong 2.167 người tham gia, có 1.783 người (82,3%) theo dõi trọn vẹn đến lúc sinh và 319 người (17,9%) đã dùng thuốc sốt rét ở 3 tháng đầu [5]. Trong số dùng thuốc, 172 người (53,9%) dùng artemether-lumefantrine (AL - một loại ACT), 78 người (24,4%) dùng quinine, 66 người (20,7%) dùng sulphadoxine-pyrimethamine (SP) và 11 người (3,4%) dùng amodiaquine [5]. Kết quả cho thấy nhóm dùng quinine tăng nguy cơ sẩy thai/thai lưu (tỷ số chênh OR 2,5) và sinh non (OR 2,6), trong khi nhóm dùng AL có OR sẩy thai/thai lưu là 1,4 và sinh non là 0,9 (không tăng có ý nghĩa thống kê) [5]. Tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở nhóm dùng AL là 0,6% (1/164), thấp hơn nhóm quinine (1,4%; 1/70), nhóm SP (3,0%; 2/66) và nhóm không dùng thuốc (1,3%; 19/1464) [5].
Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu khác tại miền tây Kenya công bố năm 2015 đã theo dõi 1.134 thai kỳ sớm từ năm 2011 đến 2013 [6]. Nếu tính gộp cả các ca phơi nhiễm ACT đã xác nhận và chưa xác nhận so với người không dùng thuốc, nguy cơ sẩy thai cao hơn với tỷ số nguy cơ (HR) là 1,70 trong 3 tháng đầu và HR là 1,61 ở giai đoạn phôi nhạy cảm (từ tuần 6 đến dưới tuần 13) [6]. Tuy nhiên, khi chỉ phân tích chính trên các ca phơi nhiễm ACT đã được xác nhận rõ ràng, nguy cơ sẩy thai không tăng có ý nghĩa thống kê so với người không dùng thuốc (HR 1,24 ở 3 tháng đầu và HR 0,73 ở giai đoạn nhạy cảm) cũng như so với nhóm dùng quinine [6]. Dù vậy, do cỡ mẫu nhỏ, các tác giả lưu ý cần thêm nghiên cứu để loại trừ mức tăng nguy cơ dưới 3 lần [6].
Năm 2016, một nghiên cứu quan sát bổ sung thêm 183 ca điều trị artemisinin được ghi chép đầy đủ trong 3 tháng đầu [7]. Nghiên cứu khẳng định sốt rét tái phát hoặc sốt rét do chủng falciparum ở 3 tháng đầu liên quan chặt chẽ đến sẩy thai [7]. Đáng chú ý, không có bằng chứng gây hại khi dùng artemisinin làm thuốc đầu tay, trong khi những phụ nữ dùng quinine thất bại rồi mới chuyển sang artemisinin lại có nguy cơ sẩy thai cao hơn [7].
Quy mô lớn hơn, một phân tích gộp năm 2017 đã tổng hợp 5 nghiên cứu quan sát tiến cứu với tổng cộng 30.618 thai kỳ (gồm 4 nghiên cứu ở châu Phi cận Sahara với 6.666 thai kỳ và 1 nghiên cứu ở Thái Lan với 23.952 thai kỳ) [8]. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về nguy cơ sẩy thai giữa nhóm dùng dẫn xuất artemisinin bất kỳ lúc nào trong 3 tháng đầu (37/671 ca) so với nhóm dùng quinine (96/945 ca; tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh aHR = 0,73; p = 0,228) [8]. Nguy cơ thai lưu (artemisinin 10/654 so với quinine 11/615; aHR = 0,29; p = 0,053) và nguy cơ mất thai nói chung (aHR = 0,58; p = 0,099) cũng không tăng [8].
Gần đây nhất, một tổng quan hệ thống và phân tích gộp dữ liệu từng bệnh nhân công bố năm 2023 cho biết: đến cuối năm 2022, phác đồ chuẩn của WHO cho 3 tháng đầu vẫn là 7 ngày dùng quinine kết hợp clindamycin, nhưng phác đồ này khó dung nạp, kém tuân thủ và kém hiệu quả hơn ACT [2]. Dựa trên dữ liệu hiện có trên người chưa thấy bằng chứng gây độc phôi hay dị tật, nghiên cứu năm 2023 đề xuất dùng thuốc phối hợp artemether-lumefantrine thay thế quinine để trị sốt rét P. falciparum không biến chứng trong 3 tháng đầu, trừ các thuốc phối hợp chứa chất chống chỉ định như sulfadoxine-pyrimethamine [2].
Hiểu lầm thường gặp về thảo dược và thuốc kê đơn
Từ các nghiên cứu trên, độc giả cần phân biệt rõ giữa việc "bác sĩ kê đơn thuốc chứa hoạt chất từ thanh hao hoa vàng để cứu bệnh nhân sốt rét" và việc "tự ý dùng cây thanh hao hoa vàng bồi bổ, hạ sốt".
Trong y văn, sở dĩ các nhà khoa học cân nhắc dùng dẫn xuất artemisinin ở 3 tháng đầu là vì bệnh sốt rét đe dọa trực tiếp tính mạng mẹ và gây sẩy thai, trong khi các thuốc thay thế đều bị kháng thuốc cao hoặc gây tác dụng phụ nặng [7, 8]. Đó là bài toán đánh đổi lợi ích - nguy cơ trong tình huống ngặt nghèo của bệnh truyền nhiễm [2, 3].
Ngược lại, nếu một thai phụ khỏe mạnh, không mắc sốt rét mà tự ý hái lá thanh hao hoa vàng sắc uống trị cảm cúm thông thường, thai phụ sẽ phải nhận trọn nguy cơ phơi nhiễm chất gây độc phôi thai mà không thu lại lợi ích sống còn nào [1]. Hơn nữa, hàm lượng artemisinin trong cây cỏ tự nhiên sắc uống không thể kiểm soát chính xác, trong khi độc tính gây chết phôi và dị tật xương, tim trên động vật phụ thuộc rất lớn vào liều lượng và thời điểm dùng [2, 3].
Ai nên đặc biệt thận trọng?
Nhóm đầu tiên cần tuyệt đối tránh tự ý dùng thanh hao hoa vàng và các chế phẩm chứa artemisinin là phụ nữ đang mang thai 3 tháng đầu, đặc biệt trong khoảng thời gian từ tuần thai thứ 6 đến tuần thứ 12 [1, 4]. Đây là giai đoạn các cơ quan của thai nhi đang hình thành, nhạy cảm nhất với nguy cơ thiếu máu phôi, tiêu phôi và dị tật xương, tim [1, 3].
Nhóm thứ hai là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đang có kế hoạch mang thai hoặc quan hệ tình dục không dùng biện pháp tránh thai. Các nghiên cứu thực tế tại châu Phi cho thấy rất nhiều trường hợp phơi nhiễm hoạt chất này ở đầu thai kỳ là do vô tình dùng thuốc khi chưa biết mình đã cấn bầu [5, 6]. Ngoài ra, phụ nữ mang thai con so, con thứ hai hoặc phụ nữ nhiễm HIV sống ở vùng dịch tễ sốt rét là nhóm dễ tổn thương nhất trước biến chứng thai kỳ, cần được bác sĩ theo dõi sát thay vì tự điều trị tại nhà [4].
Áp dụng thực tế để bảo vệ thai kỳ an toàn
Trong sinh hoạt hàng ngày, phụ nữ mang thai hoặc nghi ngờ có thai cần ngưng ngay thói quen dùng các loại nước lá, trà thảo mộc hay viên uống chiết xuất từ thanh hao hoa vàng để giải열, hạ sốt. Không dùng thực phẩm, thảo dược có chứa hoạt chất dược lý mạnh để thay thế cho việc khám chữa bệnh chuẩn mực.
Khi có biểu hiện sốt trong 3 tháng đầu thai kỳ, thai phụ cần đến ngay cơ sở y tế để xét nghiệm tìm nguyên nhân. Nếu chẳng may mắc sốt rét ở vùng dịch tễ, thai phụ tuyệt đối tuân thủ phác đồ thuốc do bác sĩ chỉ định (chẳng hạn dùng thuốc phối hợp artemether-lumefantrine hoặc quinine tùy tình trạng cụ thể), không tự ý mua thuốc bên ngoài hay bỏ dở liệu trình để tránh nguy cơ sốt rét tái phát gây sẩy thai [3, 8]. Mọi quyết định dùng thuốc khi đang mang thai hoặc có bệnh nền đều phải thông qua ý kiến bác sĩ chuyên khoa.
Tóm lại, hoạt chất artemisinin từ thanh hao hoa vàng là vũ khí quý giá trị bệnh sốt rét nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ gây độc phôi thai trong 3 tháng đầu dựa trên dữ liệu động vật [2, 7]. Dù các nghiên cứu trên người gần đây mở ra hướng dùng thuốc có kiểm soát cho bệnh nhân sốt rét, phụ nữ mang thai tuyệt đối không nên tự ý dùng thảo dược này cho các chứng bệnh thông thường [1, 3]. Thận trọng hỏi ý kiến bác sĩ trước mọi loại lá cây, thuốc uống luôn là nguyên tắc vàng để bảo vệ mẹ và bé.




