Nhu cầu sắt tăng cao trong thai kỳ

Nhiều phụ nữ mang thai có thói quen tìm kiếm các loại trái cây dân dã để ăn vặt hoặc giảm cảm giác ốm nghén, trong đó có quả cậy (loại quả cùng chi với hồng, thường có vị chát đặc trưng khi chưa chín kỹ). Tuy nhiên, không ít thai phụ băn khoăn liệu vị chát này có ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa và việc hấp thụ dinh dưỡng hay không.

Câu trả lời ngắn gọn: Phụ nữ mang thai có thể ăn quả cậy khi đã chín mềm hoàn toàn, nhưng cần ăn với lượng rất hạn chế. Thai phụ tuyệt đối không nên ăn quả cậy còn xanh hoặc có vị chát rõ rệt do lượng tannin dồi dào có thể làm trầm trọng thêm tình trạng táo bón và cản trở hấp thu sắt.

Trong thai kỳ, cơ thể người mẹ trải qua những biến đổi huyết học mạnh mẽ để nuôi dưỡng thai nhi. Nhu cầu sắt tăng vọt nhằm hỗ trợ mở rộng thể tích máu và phát triển nhau thai. Theo một hướng dẫn lâm sàng năm 2021, phác đồ điều trị đầu tay cho tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai là bổ sung sắt đường uống với liều từ 40 đến 200 mg sắt nguyên tố mỗi ngày [1]. Việc đánh giá lại nồng độ hemoglobin sau hai tuần sẽ giúp xác định khả năng đáp ứng và độ hấp thu thích hợp nếu hemoglobin tăng thêm 1 g/dL [1]. Sau khi hemoglobin đạt mức bình thường, thai phụ vẫn cần tiếp tục bổ sung sắt trong 2 đến 3 tháng và kéo dài thêm 6 tuần sau sinh [1].

Một nghiên cứu theo dõi dọc năm 1975 trên 50 phụ nữ mang thai đã ghi nhận rõ sự thay đổi hấp thu vi chất này [2]. Nghiên cứu chia các đối tượng thành hai nhóm: 24 người uống 200 mg sắt mỗi ngày và 26 người dùng giả dược [2]. Kết quả đo lường bằng liều thử nghiệm chứa 100 mg sắt đánh dấu phóng xạ cho thấy: ở nhóm dùng giả dược, tỷ lệ hấp thu sắt tự nhiên tăng dần trong suốt thai kỳ, từ mức trung bình 6,5% ở tuần thứ 12 lên đến 14,3% ở tuần thứ 35 [2]. Đáng chú ý, ở tuần thai thứ 35, nhóm dùng giả dược hầu như cạn kiệt lượng hemosiderin (dạng dự trữ sắt) trong tủy xương [2]. Ngược lại, nhóm được bổ sung 200 mg sắt mỗi ngày duy trì được tỷ lệ hấp thu từ 6,0% lên 8,6% ở tuần 35 và bảo tồn được lượng sắt dự trữ, giúp ngăn ngừa thiếu máu vào cuối thai kỳ [2].

Cơ chế tannin trong quả cậy cản trở hấp thu vi chất

Vị chát đặc trưng của quả cậy xuất phát từ tannin, một hợp chất polyphenol tự nhiên. Khi ăn phải quả có vị chát, tannin tạo liên kết bền vững với protein trong nước bọt và niêm mạc miệng, làm se niêm mạc và gây cảm giác khô ráp.

Khi đi vào đường tiêu hóa, tannin hoạt động như một chất tạo phức (chelator), gắn kết với các ion sắt tự do (đặc biệt là sắt non-heme từ thực vật và viên uống bổ sung). Phức hợp tannin-sắt này không tan trong nước, khiến ruột non không thể thẩm thấu và hấp thu sắt vào máu. Hệ quả là lượng sắt cần thiết cho mẹ và bé bị đào thải thẳng ra ngoài theo phân.

Bên cạnh việc cản trở vi chất, đặc tính làm se của tannin còn làm giảm co bóp cơ trơn thành ruột và giảm tiết dịch tiêu hóa. Điều này khiến thức ăn di chuyển chậm hơn qua đại tràng, phân bị hút cạn nước và trở nên khô cứng, dẫn đến hoặc làm nặng thêm tình trạng táo bón thai kỳ.

Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tannin lên hấp thu sắt

Tác động ức chế hấp thu sắt của tannin đã được ghi nhận rõ nét trong nhiều nghiên cứu sinh học. Một nghiên cứu năm 2010 tiến hành đo lường sinh khả dụng của sắt trên loài dơi ăn quả (Eidolon helvum) sử dụng phương pháp đồng vị bền [3]. Kết quả cho thấy axit tannic làm giảm đáng kể khả năng hấp thu sắt tới 40% ở mọi liều lượng thử nghiệm [3]. Khi không có mặt axit tannic, tỷ lệ hấp thu sắt ở loài này đạt mức rất cao, lên đến 30% [3].

Tổng quan nghiên cứu năm 2017 về tiêu thụ tannin và tình trạng sắt đã tổng hợp nhiều dữ liệu thực nghiệm quan trọng [4]. Trong một thử nghiệm mô hình làm cạn và bù hemoglobin ở chuột kéo dài 4 tuần, nhóm chuột dùng khẩu phần chứa 20 mg tannin ngưng tụ/kg thể trọng kết hợp phytoferritin bị giảm đáng kể nồng độ hemoglobin, mức tăng cân và sắt huyết thanh so với nhóm chỉ dùng phytoferritin [4]. Đáng chú ý, những con chuột bị thiếu máu ăn khẩu phần chứa 20 mg tannin/kg đã tử vong vào cuối nghiên cứu, cảnh báo về độc tính tiềm tàng của liều tannin này khi cơ thể đang suy kiệt sắt [4]. Một thử nghiệm khác trên lợn con kéo dài 4 tuần ăn thức ăn từ đậu đỏ (nhiều tannin) hoặc đậu trắng cũng ghi nhận xu hướng giảm hiệu quả bù hemoglobin vào ngày thứ 7 (đạt 49,9% so với 55,6% ở nhóm đối chứng) [4].

Tuy nhiên, cơ thể động vật và con người cũng có những phản ứng thích nghi nhất định. Một tổng quan hệ thống năm 2017 phân tích vai trò của protein giàu proline trong nước bọt cho thấy protein này có thể giúp giảm bớt sự tạo phức giữa tannin và sắt [5]. Dữ liệu cho thấy ở các nhóm chuột tiêu thụ tannin lâu dài, tỷ lệ hấp thu sắt non-heme có xu hướng cải thiện dần theo thời gian (tăng từ 7,5% lên 25,1% trong một thử nghiệm dài hạn), dù tổng lượng hấp thu tức thời vẫn bị ức chế [5]. Mức dự trữ sắt trong gan giữa các nhóm dùng tannin cấp tính và mạn tính không có sự chênh lệch mang ý nghĩa thống kê [5].

Dù có cơ chế thích nghi một phần, các bằng chứng thực nghiệm đều khẳng định tannin liều cao gây bất lợi trực tiếp lên quá trình hấp thu sắt tự do trong bữa ăn.

Nguy cơ táo bón và gánh nặng tiêu hóa ở bà bầu

Táo bón là than phiền phổ biến hàng đầu trong thai kỳ do nồng độ hormone progesterone tăng cao làm giãn các cơ trơn ruột, kéo dài thời gian lưu chuyển phân. Việc bổ sung sắt đường uống liều cao (40-200 mg/ngày) vốn đã gây tác dụng phụ thường gặp là táo bón và ợ nóng [1].

Nếu thai phụ tiếp tục ăn quả cậy có vị chát, hàm lượng tannin tự do nạp vào sẽ làm tăng gấp bội nguy cơ tắc nghẽn tiêu hóa. Khả năng làm kết tủa protein và chất xơ của tannin có thể vón cục trong dạ dày, gây đầy bụng khó tiêu, giảm cảm giác thèm ăn và gây trĩ do phải rặn nhiều khi đại tiện.

Trong trường hợp thai phụ không dung nạp sắt đường uống do tác dụng phụ tiêu hóa nghiêm trọng hoặc kém hấp thu, các bác sĩ có thể phải chỉ định bổ sung sắt qua đường tĩnh mạch [1]. Một phân tích gộp từ 103 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 10.391 bệnh nhân dùng sắt tĩnh mạch, 4.044 bệnh nhân dùng sắt uống, 1.329 người không dùng sắt và 3.335 người dùng giả dược đã chứng minh liệu pháp sắt tĩnh mạch an toàn, không làm tăng biến cố nghiêm trọng hay tỷ lệ nhiễm trùng [1]. Các chế phẩm như iron sucrose và sodium ferric gluconate được FDA xếp vào nhóm an toàn loại B trong thai kỳ [1]. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên 252 phụ nữ mang thai ở tam cá nguyệt thứ 2 và 3 (tuần 16-33) so sánh ferrous sulfate đường uống và ferric carboxymaltose đường tĩnh mạch cho thấy kết quả sơ sinh tương đương, nhưng nhóm truyền tĩnh mạch có chỉ số sinh lực và chức năng xã hội tốt hơn [1]. Dù vậy, bổ sung sắt tự nhiên và đường uống vẫn là ưu tiên hàng đầu, tránh để hệ tiêu hóa bị tổn thương do chế độ ăn sai lầm.

Những ai cần đặc biệt thận trọng với quả cậy?

Dựa trên các đặc tính dược lý và chuyển hóa, những nhóm thai phụ sau đây cần kiêng tuyệt đối hoặc hết sức cẩn trọng trước khi ăn quả cậy:

  • Thai phụ đang được chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt hoặc đang trong phác đồ uống viên sắt liều điều trị từ 40-200 mg/ngày [1].
  • Thai phụ đang gặp tình trạng táo bón thai kỳ, trĩ nội, trĩ ngoại hoặc đầy hơi, khó tiêu kéo dài.
  • Thai phụ có tiền sử viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản hoặc khả năng nhu động ruột kém.
  • Thai phụ trong tam cá nguyệt thứ ba: Giai đoạn này thai nhi tăng tốc lấy sắt từ mẹ để tạo kho dự trữ cho những tháng đầu đời [2], việc cản trở hấp thu vi chất lúc này để lại hệ quả rất lớn cho cả hai mẹ con.

Hướng dẫn ăn quả cậy an toàn trong thai kỳ

Nếu thai phụ yêu thích hương vị của loại quả này, cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc chế biến và thời điểm sử dụng:

  • Chỉ ăn quả đã chín mềm hoàn toàn: Quả cậy chín kỹ sẽ chuyển hóa phần lớn tannin hòa tan thành dạng không hòa tan, vị chát biến mất hoàn toàn và chỉ còn vị ngọt dịu. Tuyệt đối không ăn quả còn giòn cứng hoặc có vị chát dù rất nhẹ.
  • Khử chát kỹ lưỡng: Có thể áp dụng các phương pháp ngâm nước ấm, ủ chín tự nhiên hoặc ngâm nước vôi trong theo kinh nghiệm dân gian để loại bỏ triệt để tannin trước khi dùng.
  • Liều lượng tối đa: Không ăn quá 1 quả nhỏ mỗi ngày và không ăn liên tục nhiều ngày trong tuần.
  • Tách biệt thời điểm: Tuyệt đối không ăn quả cậy gần thời điểm uống viên sắt hoặc các bữa ăn chính giàu dinh dưỡng (thịt bò, trứng, các loại đậu). Khoảng cách an toàn tối thiểu là 2 đến 3 giờ trước hoặc sau khi uống sắt hoặc ăn bữa chính.
  • Uống nhiều nước và bổ sung chất xơ hòa tan: Luôn duy trì lượng nước uống đầy đủ hàng ngày để hỗ trợ nhu động ruột, giảm thiểu tác động làm săn niêm mạc ruột của lượng tannin tồn dư.

Quả cậy là món quà quê quen thuộc nhưng tiềm ẩn rủi ro đáng kể đối với phụ nữ mang thai nếu sử dụng không đúng cách. Để bảo vệ nguồn dự trữ vi chất cho thai nhi và duy trì hệ tiêu hóa khỏe mạnh, thai phụ hãy luôn lắng nghe cơ thể, chỉ dùng quả chín ngọt với lượng vừa phải và tham khảo ý kiến bác sĩ khi có bất kỳ biểu hiện bất thường nào.