Mỗi khi thời tiết thay đổi, triệu chứng cảm lạnh như nghẹt mũi, hắt hơi và ớn lạnh thường xuất hiện khiến nhiều người khó chịu. Trong dân gian, vị thuốc tế tân (tên khoa học thuộc chi Asiasarum, rễ gọi là Asiasari radix) thường được truyền tai như một thảo dược giúp tán hàn, giảm đau cơ khớp và cải thiện các triệu chứng đường hô hấp.
Tuy nhiên, với đối tượng nhạy cảm như phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ, việc sử dụng tế tân trị cảm lạnh tiềm ẩn nhiều mối lo ngại lớn. Hiện nay, các bằng chứng khoa học trực tiếp xác nhận độ an toàn của tế tân trên thai phụ và trẻ em gần như chưa có, do đó người bệnh không được tự ý dùng dược liệu này.
Nguy cơ tiềm ẩn và sự nhạy cảm của thai nhi, trẻ nhỏ
Cơ thể phụ nữ mang thai có sự thay đổi lớn về sinh lý, hệ tuần hoàn và chức năng lọc thải của gan, thận. Hàng rào nhau thai không thể ngăn chặn toàn bộ các hoạt chất hóa học hoặc độc chất từ thảo dược đi vào vòng tuần hoàn thai nhi. Bất kỳ tác động bất thường nào về mặt dược lý trong giai đoạn hình thành cơ quan cũng có thể làm tăng nguy cơ tổn thương phôi thai, sảy thai hoặc sinh non.
Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, chức năng chuyển hóa thuốc tại gan thông qua các enzym chuyển hóa sinh học cùng khả năng bài tiết qua thận chưa hoàn thiện. Sự tích lũy các chất hóa học từ dược thảo có thể gây ngộ độc toàn thân, suy giảm chức năng tế bào hoặc phản ứng phụ cấp tính. Vì vậy, các vị thuốc cổ truyền có tính cay nồng, độc tính chưa kiểm soát rõ ràng luôn cần sự giám sát thận trọng từ bác sĩ.
Nghiên cứu khoa học nói gì về tế tân (Asiasari radix)?
Dù được dùng lâu đời trong y học cổ truyền, các nghiên cứu thực nghiệm hiện đại về tế tân chủ yếu dừng lại ở mức thử nghiệm trên tế bào và động vật gặm nhấm, hoàn toàn chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên người mang thai hay trẻ nhỏ.
Một nghiên cứu độc tính bán cấp công bố năm 2009 đã tiến hành đánh giá chiết xuất methanol của tế tân (Asiasari radix) trên chuột cống trắng chủng Sprague-Dawley [1]. Các nhà nghiên cứu chia chuột đực và chuột cái thành các nhóm, cho uống chiết xuất tế tân liên tục trong 28 ngày với các mức liều 50, 250 và 500 mg/kg thể trọng mỗi ngày [1]. Kết quả ghi nhận không có trường hợp chuột nào tử vong, không xuất hiện dấu hiệu nhiễm độc rõ rệt giữa nhóm dùng thuốc và nhóm đối chứng [1].
Nghiên cứu năm 2009 này cũng chỉ ra thể trọng, khối lượng cơ quan, lượng thức ăn và nước uống tiêu thụ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [1]. Các chỉ số huyết học, hóa sinh máu, kết quả giải phẫu bệnh đại thể và vi thể mô học đều không phát hiện bất thường [1]. Nhóm nghiên cứu xác định mức liều không quan sát thấy tác dụng phụ (NOAEL) của chiết xuất methanol tế tân trên chuột cống là 500 mg/kg/ngày [1]. Dẫu vậy, đây chỉ là thử nghiệm trên chuột trưởng thành bình thường, không đánh giá độc tính sinh sản, dị tật thai nhi hay tác động trên chuột đang mang thai.
Ở cấp độ tế bào, một nghiên cứu công bố năm 2014 đã tìm hiểu tác động của dịch chiết tế tân (Asiasarum heterotropoides) lên hình thái và khả năng sống của tế bào gốc trung mô có nguồn gốc từ nướu răng người [2]. Dịch chiết được thử nghiệm ở các nồng độ từ 0,1 microg/ml đến 1.000 microg/ml (bao gồm 0, 0,1, 1, 10, 100 và 1.000 microg/ml) và theo dõi trong tối đa 7 ngày bằng xét nghiệm CCK-8 [2].
Kết quả cho thấy ở các nồng độ thấp (0,1; 1 và 10 microg/ml), hình thái tế bào tương tự như nhóm đối chứng [2]. Tuy nhiên, tại nồng độ 1.000 microg/ml, sự thay đổi hình thái đã xuất hiện ngay từ ngày thứ nhất [2]. Đến ngày thứ 7, ở nồng độ 100 microg/ml và 1.000 microg/ml, tế bào trở nên tròn hơn, số lượng tế bào giảm rõ rệt và độ sống của tế bào suy giảm đáng kể vào ngày thứ 5 và ngày thứ 7 [2]. Nghiên cứu này kết luận rằng tế tân ở nồng độ cao có thể gây ức chế và tổn hại tế bào, đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt về liều lượng và thời gian tiếp xúc [2].
Bên cạnh các thử nghiệm độc tính, một số hoạt chất phân lập từ tế tân cho thấy triển vọng điều trị dị ứng trên mô hình thí nghiệm. Nghiên cứu năm 2020 phát hiện (-)-asarinin (một lignan tách chiết từ rễ cây tế tân) có khả năng ức chế sự hoạt hóa của tế bào mast thông qua cơ chế ngăn chặn phosphoryl hóa protein kinase họ Src [3]. Hợp chất này giúp làm giảm giải phóng hạt, ức chế huy động canxi ở dòng tế bào mast người LAD2 và giảm sốc phản vệ trên mô hình chuột [3]. Trong mô hình viêm mũi dị ứng chuột phụ thuộc IgE, hoạt chất này làm giảm nồng độ histamine, IgE toàn phần, IL-4 và cải thiện tình trạng viêm niêm mạc mũi [3]. Tuy nhiên, kết quả này mới chỉ giới hạn ở quy mô phòng thí nghiệm và trên động vật.
Ngoài ra, một nghiên cứu năm 2005 trên chuột cạo lông (chủng C57BL/6 và C3H) cho thấy chiết xuất tế tân bôi ngoài da kích thích mọc lông thông qua việc kích thích tăng sinh tế bào biểu bì và tăng biểu hiện yếu tố phát triển nội mô mạch máu (VEGF) [4]. Nghiên cứu này thuần túy về tác dụng ngoài da trên động vật và không liên quan đến việc uống trị cảm lạnh.
Phân tích nguy cơ sảy thai, dị tật và ngộ độc chuyển hóa
Nhiều người thường lầm tưởng thảo dược tự nhiên là lành tính và an toàn tuyệt đối. Thực tế, trong độc chất học dược liệu, nhiều vị thuốc cổ truyền chứa các hợp chất có thể đi qua nhau thai hoặc chuyển hóa thành chất trung gian gây độc tế bào.
Mặc dù chiết xuất methanol tế tân cho thấy mức NOAEL là 500 mg/kg/ngày trên chuột khỏe mạnh trong 28 ngày [1], nhưng nghiên cứu này hoàn toàn không đo lường các chỉ số độc tính phôi thai, sự biến đổi nhiễm sắc thể hay khả năng tích lũy qua tuần hoàn thai nhi. Thêm vào đó, bằng chứng tế tân gây độc và làm giảm sức sống của tế bào người ở nồng độ cao (từ 100 đến 1.000 microg/ml) [2] cho thấy nguy cơ ngộ độc tế bào là có thật nếu tích tụ nồng độ lớn trong mô.
Hiện tại, chưa có bất kỳ dữ liệu nào chứng minh tế tân không gây quái thai hay sảy thai ở phụ nữ. Trong khi đó, việc dùng thảo dược không chuẩn hóa hàm lượng rất dễ dẫn đến quá liều. Ở trẻ nhỏ, hệ thống chuyển hóa gan chưa hoàn thiện không thể xử lý hiệu quả các hợp chất phức tạp, khiến nguy cơ ngộ độc chuyển hóa và suy giảm chức năng cơ quan tăng cao.
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược trị cảm
Một hiểu lầm phổ biến là khi bị cảm lạnh, thai phụ chỉ cần xông hoặc uống thuốc bắc, thuốc nam như tế tân thay cho thuốc tây thì sẽ không ảnh hưởng tới con. Quan niệm này tiềm ẩn rủi ro lớn vì nồng độ hoạt chất trong dược liệu khô không cố định, chịu ảnh hưởng bởi nguồn gốc, cách sao chế và bảo quản.
Nhiều người cũng cho rằng nếu bài thuốc cổ phương đã tồn tại hàng trăm năm thì mặc nhiên an toàn cho mọi lứa tuổi. Thực tế, y học cổ truyền luôn có những cấm kỵ nghiêm ngặt đối với phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh mà người bệnh tự ý bốc thuốc thường không nắm rõ. Không thể đánh đồng việc một vị thuốc có tác dụng giảm triệu chứng dị ứng trên động vật [3] với sự an toàn khi áp dụng cho người mẹ đang mang thai.
Ai cần tuyệt đối thận trọng?
Phụ nữ đang mang thai ở bất kỳ tam cá nguyệt nào đều không nên tự ý dùng tế tân để trị cảm lạnh do thiếu dữ liệu an toàn trên phôi thai và sức khỏe sinh sản.
Phụ nữ đang trong giai đoạn cho con bú cũng cần thận trọng vì các thành phần trong tế tân có thể bài tiết qua sữa mẹ và gây phản ứng không mong muốn ở trẻ bú mẹ.
Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người có tiền sử suy giảm chức năng gan, thận không nên sử dụng dược liệu này khi chưa có chỉ định và giám sát trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền.
Lời khuyên và hướng xử trí an toàn khi bị cảm lạnh
Khi bị cảm lạnh, phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ nên ưu tiên các biện pháp chăm sóc hỗ trợ an toàn và đã được kiểm chứng y khoa:
Nghỉ ngơi đầy đủ tại phòng thoáng khí, tránh gió lùa và giữ ấm cơ thể. Uống nhiều nước ấm để làm loãng đờm và giữ ẩm cho đường hô hấp.
Vệ sinh mũi họng hằng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9% để giảm nghẹt mũi, làm sạch dịch nhầy mà không lo tác dụng phụ toàn thân.
Bổ sung dinh dưỡng cân bằng thông qua các bữa ăn dễ tiêu hóa, giàu vitamin tự nhiên từ rau củ, quả tươi nhằm nâng cao sức đề kháng.
Không tự ý mua các thang thuốc thảo dược, bài thuốc dân gian truyền miệng hay các loại thuốc cảm khi chưa có ý kiến chuyên môn. Khi sốt cao, ho kéo dài, khó thở hoặc mệt mỏi li bì, cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và hướng dẫn điều trị đúng cách.

