Nhiều người truyền tai nhau các bài thuốc dân gian từ rễ cây dương đào với niềm tin rằng thảo dược này có thể làm tan biến các khối u ác tính. Sự lo lắng trước các liệu trình hóa trị hay xạ trị khiến không ít bệnh nhân tìm kiếm những giải pháp thay thế từ tự nhiên. Tuy nhiên, liệu rễ dương đào có thực sự mang lại hiệu quả kỳ diệu như lời đồn thổi, hay đây chỉ là sự thổi phồng quá mức từ các thí nghiệm ban đầu?
Câu trả lời dứt khoát từ giới y khoa là rễ dương đào hiện không thể thay thế cho bất kỳ phác đồ điều trị ung thư chính thống nào. Toàn bộ các nghiên cứu ghi nhận tiềm năng kháng u của loại dược liệu này mới dừng lại ở mức tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm và mô hình động vật thí nghiệm, hoàn toàn chưa có thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể người.
Cơ chế chống khối u trong ống nghiệm hoạt động ra sao?
Khi tìm hiểu sâu về thành phần hóa học, các nhà khoa học phát hiện rễ các loài thuộc chi dương đào (Actinidia) chứa nhiều hoạt chất sinh học đáng chú ý như triterpenoid, polyphenol và polysaccharide. Các chất này thể hiện khả năng ức chế tế bào ác tính qua nhiều con đường sinh học khác nhau khi thử nghiệm trực tiếp trên đĩa cấy.
Cơ chế đầu tiên là khả năng gây độc trực tiếp và ngăn cản sự phân chia của tế bào khối u. Các hoạt chất thử nghiệm cho thấy chúng có thể can thiệp vào các con đường tín hiệu nội bào, ức chế quá trình tăng sinh và thúc đẩy tế bào ung thư đi vào chu trình tự chết theo lập trình (apoptosis).
Ngoài ra, một số hợp chất còn thể hiện khả năng ức chế sự di căn và ngăn chặn quá trình chuyển đổi biểu mô - trung mô (EMT), một bước then chốt giúp tế bào ung thư xâm lấn sang các mô lân cận. Hiện tượng ức chế tạo mạch máu mới nuôi khối u cũng được quan sát thấy trên các mô hình tế bào nội mô.
Các nghiên cứu tế bào và động vật ghi nhận điều gì?
Các bằng chứng khoa học hiện nay về rễ dương đào chủ yếu xoay quanh việc phân lập hoạt chất và đánh giá độc tính tế bào trên nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau.
Một nghiên cứu công bố năm 2005 đã phân lập được 12 hợp chất phenolic từ rễ cây dương đào Actinidia chinensis, trong đó phát hiện các cấu trúc khung phenolic mới được đặt tên là planchol A-D cùng 4 cặp đồng phân flavonoid [1]. Khi thử nghiệm độc tính tế bào trên mô hình nuôi cấy, hai hợp chất planchol A và planchol B đã thể hiện hoạt tính gây độc tế bào đáng kể đối với hai dòng tế bào ung thư là P-388 và A-549 [1].
Năm 2013, các nhà khoa học tiếp tục phân lập 11 hợp chất triterpene đã biết từ rễ loài thảo dược này để khảo sát hoạt tính kháng tạo mạch thông qua thử nghiệm tăng sinh và tạo ống trên tế bào nội mô tĩnh mạch rốn người (HUVEC) [2]. Kết quả cho thấy các hợp chất được đánh số 2, 3, 4 (axit asiatic) và 8 (axit 2alpha,3alpha,24-trihydroxyolean-12-en-28-oic) ức chế sự tạo mạch phụ thuộc vào nồng độ thử nghiệm [2]. Các tác giả nhận định hoạt tính chống u của rễ cây một phần nhờ cơ chế ức chế tân tạo mạch máu [2].
Đến năm 2018, một công trình khác khảo sát thành phần triterpenoid từ rễ Actinidia chinensis đã phân lập được 16 hợp chất, bao gồm hợp chất mới mang cấu trúc axit 2alpha,3alpha,23,24-tetrahydroxyursa-12,20(30)-dien-28-oic [3]. Hợp chất mới này cho thấy hoạt tính chống u mức độ vừa phải trên một loạt dòng tế bào ung thư người gồm HepG2, A549, MCF-7, SK-OV-3 và HeLa với các giá trị IC50 lần lượt là 19,62 +- 0,81; 18,86 +- 1,56; 45,94 +- 3,62; 62,41 +- 2,29 và 28,74 +- 1,07 micromol/L [3].
Bên cạnh loài A. chinensis, nghiên cứu năm 2017 trên rễ loài dương đào Actinidia rufa cũng tách chiết được 9 hợp chất [4]. Trong đó, các hợp chất 2, 3 và 4 thể hiện hoạt tính gây độc tế bào đối với dòng ung thư SKVO3 và TPC-1 với giá trị IC50 trong khoảng 10,99 đến 16,41 micromol/L; riêng hợp chất 3 và 4 gây độc tế bào trên dòng ung thư cổ tử cung HeLa với IC50 lần lượt là 15,53 và 13,07 micromol/L [4].
Không chỉ dừng lại ở các tế bào đơn lẻ, một nghiên cứu công bố năm 2019 đã khảo sát dịch chiết rễ Actinidia chinensis trên mô hình ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) [5]. Ở nồng độ 10 mg/mL, dịch chiết không gây độc mà còn có tác động tích cực đến khả năng sống của tế bào gan bình thường L02, nhưng lại ức chế đáng kể sự tăng sinh của tế bào ung thư gan [5]. Dịch chiết này làm giảm biểu hiện gen DLX2, ức chế sự xâm lấn, di cư, quá trình chuyển đổi biểu mô - trung mô và thúc đẩy apoptosis của tế bào gan ác tính, đồng thời thể hiện tác dụng chống ung thư gan trên mô hình động vật [5].
Gần đây hơn, nghiên cứu năm 2021 phân tích tác động của dịch chiết rễ dương đào trên các dòng tế bào ung thư vú MDA-MB-231 và MDA-MB-453 [6]. Kết quả chỉ ra dịch chiết làm giảm khả năng sống, ức chế di cư và xâm lấn, giảm biểu hiện các protein như cyclin D1, survivin, Bcl-2, N-cadherin, Snail, đồng thời làm tăng Bax và E-cadherin [6]. Cơ chế này được cho là thông qua việc ức chế con đường truyền tín hiệu AKT/GSK-3beta bằng cách giảm mức độ phosphoryl hóa AKT, GSK-3beta và beta-catenin [6].
Ngoài tác dụng gây độc trực tiếp, thành phần đường đa từ loài dương đào Actinidia eriantha cũng được khảo sát vào năm 2009 [7]. Nghiên cứu chỉ ra phân đoạn polysaccharide toàn phần (AEP) và 4 phân đoạn tinh sạch (AEPA, AEPB, AEPC, AEPD) từ rễ cây không chỉ ức chế đáng kể sự phát triển khối u ghép trên chuột mà còn thúc đẩy tăng sinh tế bào lách, nâng cao hoạt tính của tế bào tiêu diệt tự nhiên (NK), tế bào T độc tính (CTL), kích thích sản sinh IL-2, IFN-gamma và gia tăng kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh chuột mang u [7].
Khoảng cách quá lớn giữa ống nghiệm và cơ thể người
Mặc dù các số liệu trong phòng thí nghiệm rất triển vọng, người bệnh cần hiểu rõ sự khác biệt bản chất giữa đĩa nuôi cấy và cơ thể người sống. Trong ống nghiệm, tế bào ung thư được tiếp xúc trực tiếp với hoạt chất chiết xuất tinh khiết ở nồng độ nhất định mà không gặp bất kỳ rào cản sinh học nào.
Khi một người uống nước sắc rễ cây, các hợp chất phải trải qua quá trình tiêu hóa ở dạ dày, hấp thu qua ruột non và chuyển hóa tại gan. Rất nhiều hoạt chất tự nhiên bị phân hủy bởi dịch vị hoặc không thể vượt qua hàng rào biểu mô ruột để đi vào hệ tuần hoàn với nồng độ đủ để phát huy tác dụng.
Hơn nữa, phân bố thuốc trong cơ thể vô cùng phức tạp; việc một chất gây độc tế bào ung thư trong ống nghiệm hoàn toàn không bảo đảm chất đó sẽ tìm đến đúng khối u trên cơ thể người bệnh. Hiện tại, chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành để xác định liều lượng an toàn cũng như hiệu quả thực tế của rễ dương đào đối với bệnh nhân ung thư.
Hiểu lầm tai hại: Thay thế phác đồ y khoa bằng thảo dược
Sai lầm nguy hiểm nhất của nhiều người là tin rằng các bài thuốc dân gian từ rễ cây lành tính và có thể thay thế phác đồ điều trị của bệnh viện. Khi phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, can thiệp phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị mang lại tỷ lệ điều trị thành công rất cao.
Việc tự ý bỏ viện để về nhà sắc rễ cây uống làm mất đi "thời gian vàng" kiểm soát bệnh. Đến khi khối u tiến triển to lên hoặc di căn sang các cơ quan nội tạng khác, các biện pháp điều trị y học hiện đại cũng trở nên kém hiệu quả hơn rất nhiều.
Một hiểu lầm khác là thảo dược tự nhiên thì không độc. Thực tế, rễ cây thu hái tự nhiên chứa hàng trăm hợp chất chưa được tinh chế, có thể gây quá tải cho gan và thận, hai cơ quan vốn đã phải chịu nhiều áp lực khi người bệnh mắc các bệnh lý mạn tính nặng nề.
Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Những người đã được chẩn đoán mắc các khối u ác tính tuyệt đối không được tự ý sử dụng rễ dương đào như một biện pháp điều trị chính. Bất kỳ quyết định nào liên quan đến bệnh lý cần phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa ung bướu.
Người có tiền sử suy giảm chức năng gan, suy giảm chức năng thận cần hết sức cẩn trọng. Dược liệu thô chưa qua kiểm định có thể tích tụ độc tố, gây suy giảm chức năng các cơ quan bài tiết nghiêm trọng hơn.
Các dữ liệu nghiên cứu hiện có hoàn toàn chỉ giới hạn trên tế bào nuôi cấy và động vật, chưa có nghiên cứu nào đánh giá độ an toàn trên phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú hay trẻ em. Do đó, các nhóm đối tượng nhạy cảm này không nên tùy tiện sử dụng các bài thuốc truyền miệng từ rễ cây dương đào.
Khuyến nghị áp dụng trong đời sống
Người tiêu dùng cần phân biệt rõ giữa quả dương đào (thường gọi là quả kiwi) được dùng như một loại trái cây dinh dưỡng và bộ phận rễ của cây thường dùng trong các bài thuốc cổ truyền. Quả dương đào ăn chín cung cấp nhiều vitamin và chất xơ cho chế độ ăn uống lành mạnh hàng ngày.
Ngược lại, rễ cây dương đào chỉ là đối tượng đang được giới khoa học nghiên cứu tiềm năng hóa thực vật nhằm tìm kiếm các phân tử thuốc mới cho tương lai. Người dân không nên tự ý tìm mua rễ khô, rễ tươi trên mạng xã hội để sắc uống chữa bệnh khi chưa có liều lượng chuẩn xác và căn cứ lâm sàng rõ ràng.
Nếu muốn sử dụng bất kỳ thảo dược nào với mục đích hỗ trợ nâng cao thể trạng, người bệnh nhất thiết phải tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị. Việc minh bạch thông tin giúp bác sĩ lường trước các tương tác thuốc có thể làm giảm hiệu lực của thuốc điều trị đích hay hóa chất.
Rễ cây dương đào quả thực chứa nhiều hợp chất tự nhiên có khả năng ức chế tế bào ác tính trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, từ đĩa thí nghiệm đến viên thuốc điều trị trên người là một chặng đường dài với nhiều thử nghiệm khắt khe. Người bệnh cần giữ vững niềm tin khoa học, kiên trì tuân thủ phác đồ điều trị y tế chính thống để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của bản thân.


