Nhiều người bệnh thường có thói quen kết hợp các bài thuốc từ thảo dược tự nhiên hoặc các món ăn bổ dưỡng trong thời gian dùng thuốc tây để nhanh hồi phục thể trạng. Trong số các loại thảo mộc truyền thống, cây tăng thanh đôi khi được người dân tìm kiếm với mong muốn hỗ trợ giải độc cơ thể. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa các thảo dược tự nhiên với các liệu pháp điều trị y khoa chuyên biệt có thể gây ra những rủi ro khó lường.
Hiện nay, chưa có bất kỳ nghiên cứu khoa học thực nghiệm nào ghi nhận hay chứng minh cụ thể về tương tác giữa dược liệu tăng thanh với các loại thuốc tạo phức chelate loại bỏ kim loại. Mọi dữ liệu nghiên cứu y khoa hiện hành chỉ tập trung vào cơ chế, hiệu quả cũng như tác dụng phụ của bản thân các hoạt chất chelate trên bệnh nhân ngộ độc kim loại hoặc rối loạn chuyển hóa đồng. Do đó, người bệnh không được tự ý kết hợp tăng thanh hoặc bất kỳ dược liệu nào khi chưa tham khảo ý kiến chuyên môn.
Liệu pháp chelate và cơ chế đào thải kim loại
Liệu pháp tạo phức chelate là phương pháp y khoa sử dụng các phân tử hóa học chuyên biệt để liên kết chặt chẽ với các ion kim loại nặng trong máu và các mô của cơ thể [1]. Sau khi liên kết tạo thành phức hợp bền vững, thuốc chelate sẽ tạo điều kiện để cơ thể nhanh chóng đào thải lượng kim loại dư thừa này ra ngoài qua hệ bài tiết [1]. Phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc xử trí ngộ độc kim loại cấp tính và điều trị các bệnh lý tích lũy đồng di truyền như bệnh Wilson [1, 3].
Bên cạnh các chất tạo phức trực tiếp như D-penicillamine hay trientine, một hướng can thiệp khác là bổ sung muối kẽm [1]. Khác với cơ chế tạo phức trong máu và mô, kẽm can thiệp vào quá trình hấp thu đồng tại ruột thông qua việc kích thích tổng hợp protein metallothionein trong tế bào biểu mô ruột [1]. Lượng metallothionein gia tăng sẽ ưu tiên liên kết với đồng từ chế độ ăn uống ngay trong các tế bào này, sau đó lượng đồng này sẽ bị tống xuất ra ngoài theo chu kỳ bong tróc tự nhiên của niêm mạc ruột [1]. Tuy nhiên, kẽm có tiềm năng loại bỏ và huy động đồng khỏi các mô đã bị quá tải thấp hơn so với các thuốc chelate trực tiếp [1].
Các nghiên cứu lâm sàng đã phân định rõ cơ chế này để tối ưu hóa điều trị cho người bệnh quá tải kim loại [1]. Bệnh Wilson vốn là tình trạng rối loạn dẫn đến tích tụ đồng tại gan và nhiều cơ quan nội tạng khác [2]. Quan điểm điều trị hiện đại nhấn mạnh rằng bản chất gây hại trong bệnh Wilson có triệu chứng xuất phát từ lượng đồng tự do trong máu (đồng không gắn với ceruloplasmin), trong khi đồng đã liên kết với ceruloplasmin hay metallothionein không gây ngộ độc [2]. Vì vậy, việc can thiệp bằng kẽm nhằm bình thường hóa nồng độ đồng tự do qua đường tiêu hóa và phân đã trở thành một giải pháp quan trọng [2].
Các loại thuốc tạo phức chelate trong nghiên cứu y học
Trong thực hành lâm sàng, D-penicillamine là một trong những thuốc chelate đường uống được sử dụng phổ biến nhất [1, 7]. Một báo cáo ca bệnh năm 2011 về ngộ độc đồng sulfat cấp tính cho thấy penicillamine được dùng qua đường uống với mức liều 1 - 1,5 g/ngày, chia làm 2 đến 4 lần dùng [3]. Các bệnh nhân trong báo cáo này tiếp nhận penicillamine liều cao qua đường uống mà không ghi nhận tác dụng xấu nghiêm trọng tức thời [3]. Tuy nhiên, tài liệu cũng lưu ý penicillamine có độc tính trên thận nên cần dùng rất thận trọng ở những nơi thiếu điều kiện lọc máu thay thế thận [3].
Bên cạnh penicillamine đường uống, các thuốc chelate khác cũng được nghiên cứu chỉ định tùy theo tình trạng bệnh nhân [3]. Khi bệnh nhân bị tổn thương ăn mòn nghiêm trọng ở đường tiêu hóa khiến việc uống penicillamine trở nên khó khăn hoặc chống chỉ định, hoạt chất dimercaprol (British anti-Lewisite hay BAL) được khuyến nghị tiêm bắp với liều 3 - 5 mg/kg/liều, dùng mỗi 4 giờ trong 2 ngày đầu rồi giảm liều dần trong tổng thời gian 7 - 11 ngày [3]. Dù vậy, hiệu quả của dimercaprol so với penicillamine vẫn còn gây tranh luận giữa một số tác giả [3].
Một lựa chọn khác được ghi nhận là Edetate Calcium disodium, đôi khi được đề xuất như liệu pháp bước một khi việc dùng penicillamine không đảm bảo an toàn [3]. Một số báo cáo trường hợp cho thấy bệnh nhân ngộ độc đồng được điều trị thành công bằng Edetate Calcium disodium, sau đó theo dõi tiếp bằng penicillamine hoặc dimercaprol đường uống [3]. Dù vậy, Edetate Calcium disodium cũng tiềm ẩn nguy cơ gây hoại tử ống thận cấp và bắt buộc phải giảm liều cẩn trọng nếu bệnh nhân có biểu hiện tổn thương thận cấp tính [3]. Thời gian kéo dài liệu pháp chelate chưa được xác lập bằng bằng chứng chắc chắn, các chuyên gia khuyến nghị tiếp tục điều trị chừng nào nồng độ đồng huyết thanh còn vượt ngưỡng bình thường [3].
Bằng chứng nghiên cứu lâm sàng trên các nhóm bệnh nhân
Hiệu quả và mức độ đáp ứng của thuốc tạo phức chelate đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu quan sát trên người và động vật. Một nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm tại châu Âu đã phân tích kết quả điều trị trên 405 bệnh nhân mắc bệnh Wilson được dùng D-penicillamine hoặc trientine kéo dài ít nhất 6 tháng [1]. Kết quả cho thấy liệu pháp chelate giúp cải thiện chức năng gan ở trên 90% bệnh nhân bất kể loại thuốc sử dụng [1]. Trái lại, tỷ lệ đáp ứng ở những người có biểu hiện thần kinh kém khả quan hơn rất nhiều, sau 4 năm điều trị chỉ có 88 trên tổng số 143 bệnh nhân (tương đương 62%) có cải thiện triệu chứng thần kinh, điều này phản ánh tổn thương não có thể đã không thể đảo ngược [1].
Một báo cáo tổng quan năm 2021 về liệu pháp chelate ở bệnh gan trẻ em chỉ ra rằng chelate hóa là trụ cột điều trị trong bệnh Wilson và tình trạng ứ sắt thứ phát sau truyền máu ở bệnh nhân thiếu máu tán huyết [4]. Trientine được chứng minh có hiệu quả tương đương D-penicillamine ở bệnh Wilson thể gan nhưng ít gây tác dụng phụ hơn, trong khi một chất khác là ammonium tetra-thiomolybdate vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm [4]. Ngược lại, vai trò của chelate rất hạn chế hoặc không hiệu quả ở bệnh nhân ứ sắt sơ sinh, bệnh xơ gan ở trẻ em Ấn Độ hay bệnh ứ sắt di truyền [4].
Tại một thử nghiệm lâm sàng năm 1983 trên nhóm 8 trẻ em mắc chứng ứ mật trong gan (IHCC) kèm tăng đồng trong gan được dùng D-penicillamine liều 10 mg/kg/ngày (chuyển sang triethylenetetramine dihydrochloride 20 mg/kg/ngày nếu có tác dụng phụ) trong 2 năm [5]. Mặc dù nồng độ đồng trong gan giảm ở 7/8 bệnh nhân từ trung vị 8,6 micromol/g xuống 3,4 micromol/g, triệu chứng ngứa ngáy không hề thuyên giảm, men gan AST tăng ở 7/8 bệnh nhi và đánh giá mô học cho thấy tình trạng xơ hóa lẫn ứ mật gia tăng [5]. Đáng chú ý, 2 bệnh nhi đã tử vong trong quá trình nghiên cứu dù một trường hợp đã đạt mức đồng gan bình thường [5].
Nghiên cứu trên động vật cũng cung cấp cái nhìn về độc tính của các thuốc nhóm này. Một báo cáo năm 2023 trên một cá thể chó giống Doberman pinscher mắc bệnh viêm gan do tích tụ đồng được điều trị bằng D-penicillamine đã ghi nhận tình trạng giảm bạch cầu trung tính rõ rệt sau 4 tháng điều trị, kết quả tế bào học tủy xương xác nhận giảm sản dòng tủy [6]. Sau khi ngừng dùng D-penicillamine, số lượng bạch cầu trung tính đã phục hồi hoàn toàn [6].
Nguy cơ tác dụng phụ và hiện tượng xấu đi nghịch thường
Việc sử dụng các thuốc tạo phức chelate, đặc biệt là penicillamine, tiềm ẩn nhiều tác dụng không mong muốn nghiêm trọng. Trong nghiên cứu trên 405 bệnh nhân Wilson, hiện tượng triệu chứng thần kinh xấu đi nghịch thường được ghi nhận ở mức tối đa 20% bệnh nhân sau khi bắt đầu dùng D-penicillamine hoặc trientine [1]. Một báo cáo lâm sàng năm 2015 đã theo dõi hình ảnh MRI và các chất chỉ điểm mất cân bằng oxy hóa trên 4 bệnh nhân Wilson có biểu hiện thần kinh bị suy thoái trong vòng 4 - 8 tuần sau khi dùng penicillamine [7].
Hình ảnh chụp sọ não của 4 bệnh nhân này phát hiện các tổn thương mới có giới hạn khuếch tán tại vùng chất trắng, đồi thị, cầu não và trung não [7]. Sự sa sút thần kinh này đi kèm với tình trạng tăng đồng tự do huyết thanh, tăng malondialdehyde và suy giảm glutathione; tình trạng lâm sàng chỉ ổn định lại vài tuần sau khi ngừng thuốc penicillamine [7]. Nghiên cứu chỉ ra sự gia tăng nồng độ đồng tự do gây stress oxy hóa có thể là nguyên nhân chính dẫn đến các tổn thương cấu trúc não mới này [7].
Ngoài biến chứng thần kinh, các tổn thương da và niêm mạc nghiêm trọng cũng đã được ghi nhận. Một báo cáo ca bệnh năm 1981 ghi nhận bệnh nhân Wilson dùng penicillamine kéo dài đã phát triển các tổn thương viêm miệng suy nhược mạn tính, được xác định tương đương bệnh pemphigus vulgaris [8]. Do tình trạng tổn thương miệng không thoái lui khi giảm liệu trình và bệnh nhân không thể ngưng thuốc lâu vì cần duy trì mức đồng huyết thanh an toàn, người bệnh sau đó đã được chuyển đổi thành công sang tetraethylene tetramine (TETA) kết hợp betamethasone [8]. Trong nghiên cứu ở trẻ ứ mật, D-penicillamine cũng khiến 1 trẻ chán ăn và mệt mỏi sau 9 tháng, cùng 1 trẻ bị giảm tiểu cầu sau 19 tháng [5].
Những hiểu lầm phổ biến khi dùng thuốc chelate
Nhiều người lầm tưởng rằng thuốc tạo phức chelate có thể áp dụng tùy tiện như một dạng thuốc bổ trợ để thanh lọc độc tố hay các kim loại nặng nói chung. Trên thực tế, liệu pháp chelate là can thiệp y tế có kiểm soát chặt chẽ, tiềm ẩn nguy cơ tổn thương ống thận cấp tính, suy tủy xương hoặc làm bùng phát tổn thương thần kinh nếu chỉ định sai [1, 2, 8]. Việc tự ý tìm kiếm các loại dược thảo hay áp dụng bài thuốc truyền miệng song song với thuốc đào thải đồng mà không rõ cơ chế tương tác có thể làm sai lệch quá trình điều trị.
Một hiểu lầm khác là quá trình đào thải kim loại diễn ra càng nhanh càng tốt. Các dữ liệu khoa học cho thấy sự giải phóng ồ ạt kim loại tự do vào tuần hoàn khi dùng thuốc liều cao có thể gây stress oxy hóa và làm tổn thương thêm các mô thần kinh trung ương [7]. Do đó, hướng tiếp cận hiện đại trong điều trị bệnh Wilson thậm chí ưu tiên kiểm soát lượng đồng tự do bằng muối kẽm để chặn hấp thu qua ruột thay vì vội vã dùng chất chelate mạnh ngay từ đầu [2].
Ai nên thận trọng với liệu pháp chelate và tăng thanh?
Những bệnh nhân mắc bệnh chuyển hóa đồng như bệnh Wilson, người bệnh đang trong giai đoạn tổn thương thần kinh hoặc viêm gan nặng cần tuyệt đối tuân thủ phác đồ của bác sĩ chuyên khoa [3, 7]. Bất kỳ sự thay đổi nào về chế độ ăn uống hay sử dụng thêm dược liệu tự nhiên đều có thể làm thay đổi sự hấp thu thuốc hoặc gia tăng gánh nặng chuyển hóa qua gan và thận [1, 5].
Những người có tiền sử suy giảm chức năng thận hoặc tổn thương thận cấp tính phải được giám sát nghiêm ngặt khi dùng penicillamine hoặc Edetate Calcium disodium vì nguy cơ hoại tử ống thận cấp [3]. Bệnh nhân đang tiếp nhận D-penicillamine cần được theo dõi định kỳ công thức máu toàn phần để kịp thời phát hiện sớm các dấu hiệu giảm bạch cầu trung tính hay giảm tiểu cầu [2, 5].
Đối với việc dùng cây tăng thanh, chưa có dữ liệu an toàn nào được xác lập trên phụ nữ có thai, bà mẹ đang cho con bú, trẻ nhỏ cũng như các bệnh nhân đang điều trị bệnh lý tích tụ kim loại. Do không có bằng chứng về việc tăng thanh cản trở hay thúc đẩy tác dụng của thuốc chelate, các nhóm đối tượng này cần tránh tự ý sắc uống thảo mộc khi đang dùng thuốc tây.
Gợi ý áp dụng thực tế và lời khuyên sử dụng
Hiện nay, do hoàn toàn thiếu vắng các tài liệu nghiên cứu về liều lượng, cách chế biến cũng như thời điểm sử dụng tăng thanh trong mối tương quan với các thuốc chelate, người bệnh tuyệt đối không được tự ý kết hợp hai phương pháp này. Việc sử dụng thảo dược không rõ thành phần hoạt chất cùng lúc với thuốc chelate có nguy cơ tạo ra các phản ứng kết tủa hoặc cạnh tranh hấp thu ngoài ý muốn tại đường tiêu hóa.
Nếu đang được chỉ định điều trị bằng thuốc chelate hoặc muối kẽm, người bệnh cần uống thuốc đúng liều lượng, chia đều các lần dùng trong ngày theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa [3]. Mọi loại thực phẩm chức năng, thảo dược hay chế phẩm bổ sung dự kiến sử dụng thêm đều phải được thông báo chi tiết cho bác sĩ điều trị để đánh giá nguy cơ tương tác.
Liệu pháp tạo phức chelate là giải pháp can thiệp y học đặc hiệu, đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt về nồng độ kim loại và các chỉ số sinh hóa máu [1, 3]. Hiện tại chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy tăng thanh có thể hỗ trợ hay làm giảm hấp thu các thuốc chelate và thuốc đào thải đồng. Người bệnh cần giữ chế độ dinh dưỡng cân bằng, uống đủ nước và chỉ tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị để đảm bảo an toàn tối đa cho sức khỏe.

