Tảo hưu (thường được biết đến với tên khoa học là Paris polyphylla hay bảy lá một hoa) là vị thuốc cổ truyền được lưu truyền rộng rãi trong dân gian [1]. Thời gian gần đây, thảo dược này được đồn thổi như một phương thuốc thần kỳ có khả năng tiêu diệt tế bào ác tính, khiến nhiều gia đình tìm mua với giá đắt đỏ.
Thực tế, các hợp chất chiết xuất từ tảo hưu chỉ mới chứng minh được khả năng ức chế tế bào ác tính trong phòng thí nghiệm và trên động vật thực nghiệm, hoàn toàn chưa có thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể người bệnh ung thư. Việc ngộ nhận tác dụng diệt tế bào trong đĩa nuôi cấy đồng nghĩa với khả năng điều trị khỏi bệnh trên người là sai lầm nguy hại, có thể làm lỡ thời gian điều trị vàng.
Hoạt chất saponin: Tiềm năng lớn trong phòng thí nghiệm
Tảo hưu từ lâu đã xuất hiện trong y học cổ truyền Ấn Độ và Trung Quốc, được ghi nhận với nhiều ứng dụng trị liệu [1]. Một bài tổng quan năm 2021 phân tích 62 bài thuốc kinh nghiệm của 8 dân tộc thiểu số cho thấy cây thuốc này xuất hiện nhiều trong điều trị bệnh ngoài da, chấn thương, nhiễm độc cũng như hỗ trợ điều trị ung thư [2]. Phân tích thành phần cho thấy cây chứa 26 hoạt chất chính, trong đó có 19 loại saponin steroid có hoạt tính sinh học [2].
Tại các trung tâm nghiên cứu hiện đại, các saponin phân lập từ thảo dược này thể hiện khả năng tác động mạnh mẽ lên tế bào ác tính [3]. Nghiên cứu tổng quan năm 2022 cho thấy hoạt chất polyphyllin D thể hiện hoạt tính chống ung thư mạnh trong điều kiện ống nghiệm trên nhiều dòng tế bào như buồng trứng, bạch cầu, gan, não và ức chế hình thành mạch máu khối u [4]. Đáng chú ý, nồng độ ức chế 50% tế bào (IC50) của polyphyllin D trên dòng tế bào ung thư buồng trứng chỉ dao động từ 0,2 đến 1,4 micromol/L, và trên dòng tế bào bạch cầu là 0,8 đến 0,9 micromol/L [4].
Các dạng saponin khác cũng ghi nhận kết quả tương tự trong đĩa thí nghiệm. Paris saponin VII ức chế tế bào ung thư cổ tử cung người với IC50 là 2,62 ± 0,11 micromol/L và tế bào ung thư gan với IC50 từ 0,80 đến 2,75 micromol/L [4]. Hoạt chất paris saponin H ức chế tế bào ung thư gan ở mức IC50 1,25 micromol/L, còn paris saponin I ức chế tế bào ung thư phổi ở nồng độ từ 1,21 đến 2,51 microgam/mL [4]. Ngoài ra, paris saponin II và polyphyllin I cũng được ghi nhận khả năng ức chế trên các tế bào ung thư phổi, gan và xương [4]. Dữ liệu cho thấy giá trị IC50 của các hợp chất này có thể sánh ngang với một số hóa chất điều trị tổng hợp trong điều kiện nuôi cấy tế bào [4].
Cơ chế kích hoạt chu trình chết tự nhiên của tế bào ác tính
Tế bào ung thư thường mất khả năng tự chết theo chu trình, dẫn tới việc nhân lên vô tổ chức. Khi thử nghiệm trực tiếp trên đĩa nuôi cấy, các hoạt chất của tảo hưu đã can thiệp vào các đường truyền tín hiệu nội bào để ép tế bào ác tính tự tiêu hủy [3].
Một nghiên cứu công bố năm 2017 chỉ ra rằng hợp chất paris saponin XA-2 phân lập từ Paris polyphylla có hoạt tính chống lại hai dòng tế bào ung thư vú là MCF-7 và MDA-MB-231 [3]. Chất này kích hoạt quá trình tự chết (apoptosis) thông qua enzyme caspase và phân cắt PARP, đồng thời gây ra hiện tượng tự thực bào (autophagy) [3]. Hoạt động tự thực bào này làm thúc đẩy quá trình chết tế bào, đi kèm với sự suy giảm protein thuộc con đường tín hiệu Akt/mTOR [3].
Đối với ung thư phổi dòng A549, nghiên cứu năm 2015 cho thấy nhóm saponin steroid của tảo hưu (PPSS) làm giảm tỷ lệ tế bào sống sót qua cơ chế kích hoạt đồng thời cả tự thực và chết rụng [5]. Tế bào ung thư phổi tự chết do sự hoạt hóa caspase-8, caspase-3 cùng sự phân cắt PARP, bên cạnh sự gia tăng Beclin 1 và chuyển đổi LC3 I sang LC3 II của quá trình tự thực [5].
Một nghiên cứu năm 2022 trên cây Paris polyphylla var. chinensis tại Việt Nam cũng ghi nhận chiết xuất ethanol phần trên mặt đất có hoạt tính độc tế bào MCF-7 [6]. Nhóm tác giả phân lập 6 hợp chất và nhận thấy paris saponin II có độc tính mạnh nhất với dòng tế bào này qua việc làm tăng biểu hiện của các protein p53, p21, p27, Bax và kìm hãm cyclin D1, từ đó làm ngưng chu kỳ tế bào ở pha G1/S [6].
Gần đây nhất, nghiên cứu năm 2023 phát hiện dịch chiết tảo hưu (PPE) gây độc tế bào ung thư đại trực tràng HCT-116 với IC50 đạt 8,72 ± 0,71 microgam/mL [7]. Dịch chiết này kích thích sinh hạt oxy hóa khử (ROS) và hoạt hóa caspase-3 gây chết rụng tế bào ác tính, nhưng không gây độc đáng kể lên tế bào biểu mô đại tràng bình thường CCD 841 CoN [7]. Dịch chiết này còn thể hiện tính hiệp đồng khi kết hợp cùng hai hóa chất điều trị chuẩn là fluorouracil (5-FU) và cisplatin trong ống nghiệm [7].
Từ đĩa nuôi cấy đến cơ thể động vật thực nghiệm
Khoảng cách từ thử nghiệm tế bào đến sinh vật sống hoàn chỉnh là rất lớn. Tác dụng diệt tế bào mạnh trong đĩa thí nghiệm có thể suy giảm hoặc biến mất khi đưa vào cơ thể sống do vấn đề hấp thu, chuyển hóa tại gan hoặc phân bố dịch thể.
Nghiên cứu công bố năm 2005 đã bước đầu đưa saponin polyphyllin D vào thử nghiệm trên chuột nhắt trần mang khối u ung thư vú người MCF-7 [8]. Trước đó, trên đĩa nuôi cấy, chất này làm suy giảm điện thế màng ty thể, giảm biểu hiện gen chống chết rụng Bcl-2, tăng gen thúc đẩy chết rụng Bax và kích hoạt caspase-9, với IC50 sau 48 giờ đạt 5 micromol/L trên tế bào MCF-7 và 2,5 micromol/L trên tế bào MDA-MB-231 [8].
Khi tiến hành thử nghiệm trên động vật, các nhà khoa học tiêm tĩnh mạch polyphyllin D liều 2,73 mg/kg thể trọng mỗi ngày trong vòng 10 ngày liên tục cho chuột mang khối u [8]. Kết quả ghi nhận kích thước và khối lượng khối u giảm 50% so với nhóm đối chứng, đồng thời không gây độc tính rõ rệt lên tim và gan của chuột [8].
Thực tế trên người: Chưa hề có thử nghiệm lâm sàng
Mặc dù các kết quả tiền lâm sàng kể trên rất hứa hẹn, người bệnh cần nhìn nhận khách quan: Tất cả các báo cáo khoa học uy tín hiện có chỉ dừng lại ở mức tế bào in vitro và mô hình chuột [3], [8], [5], [7].
Hiện nay, hoàn toàn chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng có đối chứng nào trên người chứng minh tảo hưu hay chiết xuất của nó có thể tiêu diệt khối u, ngăn chặn di căn hay kéo dài sự sống cho bệnh nhân ung thư. Một chất có thể ức chế tế bào khối u trong ống nghiệm nhưng khi vào cơ thể người, đường uống có thể làm hoạt chất bị dịch tiêu hóa phân hủy hoặc không thể hấp thu vào máu đủ nồng độ cần thiết.
Nhiều người bệnh ung thư thường mắc sai lầm nghiêm trọng khi tự ý tìm mua rễ tảo hưu về sắc uống thay thế phác đồ điều trị chính thống như phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị. Hành động này vô tình làm mất đi cơ hội chữa trị trong giai đoạn vàng của bệnh.
Hơn nữa, các saponin thực vật có hoạt tính phá màng và độc tính tế bào cao [8], [7]. Khi tự ý dùng thảo dược thô chưa qua tinh chế, người bệnh có nguy cơ gặp phản ứng độc hại, suy giảm chức năng gan, thận hoặc gặp tương tác thuốc bất lợi với các hóa chất trị liệu đang dùng.
Tình trạng cạn kiệt nguồn thảo dược tự nhiên
Cơn sốt tìm kiếm các phương thuốc trị ung thư bí truyền cũng dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng cho tự nhiên. Bài tổng quan năm 2014 nhấn mạnh nhu cầu sử dụng Paris polyphylla trong nước và quốc tế tăng vọt khiến việc khai thác quá mức và thiếu khoa học ngoài tự nhiên bùng nổ [1].
Hậu quả là quần thể loài cây này trong tự nhiên suy giảm mạnh, đẩy tảo hưu vào danh mục các loài thực vật dễ bị tổn thương cần được bảo tồn và phục hồi [1]. Việc săn lùng mù quáng không chỉ gây hại cho hệ sinh thái mà còn đẩy người bệnh vào cảnh tiền mất tật mang do mua phải dược liệu giả, kém chất lượng trôi nổi trên thị trường.
Ai cần thận trọng và cách tiếp cận khoa học
Nhóm đối tượng cần thận trọng nhất chính là những bệnh nhân đang điều trị ung thư giai đoạn tiến triển, người có bệnh nền suy giảm chức năng gan hoặc thận. Mặc dù chiết xuất tảo hưu cho thấy khả năng hiệp đồng với cisplatin và 5-FU trong điều kiện tế bào [7], bệnh nhân tuyệt đối không tự ý uống thảo dược kết hợp cùng đợt hóa trị nếu không có chỉ định từ bác sĩ chuyên khoa ung bướu.
Hiện tại, y học chưa có quy định về liều dùng, dạng dùng hay độ an toàn của thảo dược tảo hưu thô trong điều trị ung thư ở người. Dược liệu này chỉ nên được xem là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho các nghiên cứu hóa dược trong phòng thí nghiệm nhằm phân lập các hoạt chất mới [3], [4].
Người bệnh ung thư cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị của bệnh viện chuyên khoa. Mọi mong muốn sử dụng thêm bất kỳ bài thuốc bổ trợ hay cây cỏ dân gian nào đều phải tham khảo trực tiếp ý kiến của bác sĩ điều trị để tránh tương tác bất lợi làm giảm hiệu quả liệu trình. Tảo hưu là một đối tượng nghiên cứu quý của dược học hiện đại, nhưng khoảng cách từ đĩa thí nghiệm đến phác đồ chữa bệnh trên người vẫn còn là một chặng đường dài.


