Nhiều bậc phụ huynh khi thấy con còi cọc, chậm lớn thường tìm kiếm các bài thuốc dân gian bồi bổ cấp tốc. Trong số đó, cao gấu thường được truyền miệng như một "thần dược" giúp trẻ tăng cân, cứng xương và nhanh phát triển.
Tuy nhiên, việc tùy tiện cho trẻ nhỏ sử dụng các loại cao nấu từ xương động vật hoang dã như cao gấu là một sai lầm nguy hại. Y học hiện đại cảnh báo việc bổ sung nguồn đạm cô đặc và khoáng chất không kiểm soát tiềm ẩn rủi ro lớn làm rối loạn chuyển hóa và thúc đẩy cốt hóa xương sớm ở trẻ em.
Cơn sốt bồi bổ bằng cao động vật và thực tế nguy hại
Tại Việt Nam, tâm lý nôn nóng muốn con tăng trưởng nhanh khiến không ít phụ huynh chi tiền triệu mua cao gấu, cao hổ cốt để tẩm bổ cho trẻ còi xương. Quan niệm dân gian cho rằng "ăn gì bổ nấy", xương động vật chứa nhiều canxi và dưỡng chất sẽ giúp xương trẻ nhanh dài.
Thực tế, hệ tiêu hóa và các cơ quan chuyển hóa của trẻ nhỏ chưa hoàn thiện. Cao gấu là sản phẩm cô đặc từ xương, gân và tủy động vật, chứa tỷ lệ đạm đậm đặc cùng nhiều chất khó hấp thu. Thay vì giúp trẻ lớn nhanh, việc nạp đột ngột lượng dưỡng chất mất cân bằng này tạo gánh nặng chuyển hóa cực lớn lên cơ thể non nớt của trẻ.
Cơ chế tác động: Nguy cơ cốt hóa sớm và rối loạn chuyển hóa
Tăng trưởng chiều cao ở trẻ em phụ thuộc vào sự hoạt động của các đĩa sụn tiếp hợp (sụn tăng trưởng) ở đầu xương dài. Khi sụn này còn mở, xương mới có thể tiếp tục dài ra dưới sự điều hòa nhịp nhàng của các hormone tăng trưởng và hormone giới tính.
Nếu trẻ nhỏ nạp vào các sản phẩm bổ dưỡng chứa hoạt chất kích thích sinh học mạnh hoặc vi chất mất cân đối, quá trình đóng khớp xương có thể bị thúc đẩy sớm hơn bình thường. Khi đĩa sụn cốt hóa và đóng lại hoàn toàn, trẻ sẽ ngừng phát triển chiều cao vĩnh viễn, dẫn đến tầm vóc thấp lùn khi trưởng thành dù từng có giai đoạn tăng cân hoặc lớn nhanh cục bộ.
Bên cạnh đó, việc nạp lượng protein và khoáng vô cơ quá đậm đặc buộc gan và thận của trẻ phải làm việc quá tải để lọc và đào thải các sản phẩm chuyển hóa. Tình trạng này dễ kéo theo biến chứng suy giảm chức năng gan thận, rối loạn mỡ máu và mất cân bằng các vi chất thiết yếu khác trong cơ thể.
Nghiên cứu cảnh báo về vi chất và sự an toàn của xương trẻ
Mặc dù chưa có thử nghiệm lâm sàng nào cấp phép dùng cao gấu cho trẻ em vì lý do đạo đức và bảo tồn, các bằng chứng y khoa hiện đại đã chỉ ra sự mỏng manh của hệ xương đang phát triển trước các chất ngoại lai.
Năm 2020, một nghiên cứu trên chuột cống SD ba tuần tuổi xem xét độc tính của hạt nano kẽm oxit (ZnO NPs) đường uống đối với xương đang phát triển [1]. Nghiên cứu này chia các nhóm chuột dùng các liều 68, 203 và 610 mg/kg/ngày bằng đường bơm vào dạ dày trong 28 ngày, so sánh với nhóm đối chứng dùng nước siêu tinh khiết [1]. Kết quả nghiên cứu xác nhận việc phơi nhiễm đường uống với ZnO NPs đã phá vỡ cấu trúc xương ở chuột non thông qua con đường tín hiệu OPG/RANK/RANKL/IGF-1 [1]. Nghiên cứu cũng lưu ý liều kẽm tối đa cho phép ở trẻ em chỉ là 7 mg/ngày [1]. Giới hạn của nghiên cứu này là thực hiện trên mô hình động vật gặm nhấm, nhưng nó cho thấy hệ xương đang lớn rất nhạy cảm và dễ tổn thương trước sự can thiệp khoáng chất quá liều.
Vấn đề kiểm soát điều trị tăng trưởng chính thống đòi hỏi tiêu chuẩn rất khắt khe. Một nghiên cứu lâm sàng công bố năm 1993 đánh giá độ an toàn của hormone tăng trưởng sinh tổng hợp chiết xuất từ tế bào động vật có vú trên 8 trẻ em bị thiếu hụt hormone tăng trưởng [2]. Mỗi trẻ được tiêm dưới da 0,6 U/kg/tuần trong 6 tháng, được theo dõi hàng tháng về các biến đổi lâm sàng và nhân trắc học [2]. Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng tăng từ dưới 4 cm/năm lên 11,2 ± 1,08 cm/năm, tuổi xương được duy trì phù hợp với tuổi thực, không có tác dụng phụ ngoại trừ suy giáp thoáng qua ở 2 bệnh nhân và suy giáp tuyến yên bộc lộ ở 2 bệnh nhân khác [2]. Giới hạn nghiên cứu là cỡ mẫu rất nhỏ (8 trẻ), nhưng khẳng định mọi can thiệp tăng trưởng phải đảm bảo không làm đẩy nhanh tuổi xương bất thường.
Ngoài ra, một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2025 về kỹ thuật đóng đinh nội tủy cứng qua đĩa tăng trưởng mở ở trẻ em đã chỉ ra tầm quan trọng sống còn của việc bảo vệ sụn tiếp hợp [3]. Nghiên cứu nhấn mạnh các tổn thương hay tác động cơ học vi phạm vào đĩa sụn đang mở có thể đe dọa trực tiếp sự phát triển chiều dài của xương [3]. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng thừa nhận hạn chế về sự thiên lệch xuất bản và bằng chứng từ động vật thiếu tính ứng dụng lâm sàng trực tiếp [3].
Nguy cơ truyền nhiễm từ chế phẩm xương động vật
Không chỉ gây rối loạn nội tiết và chuyển hóa, các sản phẩm trích xuất từ xương mô động vật chưa qua kiểm định y tế còn tiềm ẩn rủi ro lây nhiễm mầm bệnh nguy hiểm.
Một bài tổng quan năm 2016 về vật liệu ghép xương có nguồn gốc từ bò cảnh báo nguy cơ nhiễm prion - tác nhân gây bệnh não xốp [4]. Các tác giả chỉ ra rằng việc sàng lọc prion còn nhiều hạn chế, prion hoàn toàn có thể vượt qua rào cản loài và thời gian ủ bệnh ở người kéo dài từ 1 đến hơn 50 năm [4]. Giới hạn là nghiên cứu tập trung vào nguồn gốc mô bò, song nguyên lý an toàn sinh học này cho thấy việc sử dụng các mô, xương động vật hoang dã chưa được kiểm soát chuẩn mực y tế tiềm ẩn nhiều mối nguy truyền nhiễm khôn lường.
Những hiểu lầm tai hại phụ huynh thường gặp
Nhiều cha mẹ tin rằng trẻ còi xương uống cao gấu sẽ mau cứng cáp, "chắc xương" như loài gấu. Đây là nhận thức hoàn toàn sai lệch về mặt sinh học. Khả năng chịu lực và cấu trúc xương của thú hoang dã không thể sao chép sang người thông qua đường tiêu hóa bằng việc ăn cao nấu.
Một hiểu lầm khác là thấy trẻ có vẻ lớn phổng phao, ăn nhiều sau một thời gian dùng cao thì cho rằng bài thuốc có tác dụng. Hiện tượng này thường do các chất kích thích giữ nước hoặc kích thích tăng trưởng giả tạo. Khi sụn tăng trưởng bị thúc ép cốt hóa sớm, trẻ sẽ nhanh chóng chững lại và không thể đạt được chiều cao tối đa khi bước vào giai đoạn dậy thì thật sự.
Nhóm đối tượng tuyệt đối không sử dụng
Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên là đối tượng tuyệt đối không được sử dụng cao gấu cũng như các loại cao xương động vật hoang dã khác.
Đặc biệt, trẻ có tiền sử rối loạn chức năng gan, thận, trẻ béo phì hoặc trẻ có dấu hiệu dậy thì sớm càng phải tránh xa các sản phẩm giàu đạm cô đặc và chất kích thích sinh học chưa rõ thành phần. Phụ nữ mang thai và cho con bú cũng không được sử dụng do nguy cơ lây truyền tạp chất và độc tố qua nhau thai hoặc sữa mẹ.
Giải pháp can thiệp khoa học cho trẻ còi xương
Để cải thiện tình trạng còi xương và chậm lớn ở trẻ, phụ huynh cần áp dụng các biện pháp khoa học đã được kiểm chứng thay vì tìm đến dược liệu truyền miệng:
- Thăm khám chuyên khoa: Đưa trẻ đến cơ sở y tế để được đo vi chất, đánh giá mật độ xương và chẩn đoán chính xác nguyên nhân (thiếu vitamin D, thiếu canxi, kém hấp thu hoặc thiếu hormone).
- Bổ sung dinh dưỡng cân bằng: Đảm bảo thực đơn hàng ngày đủ 4 nhóm chất đường bột, đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất từ thực phẩm tự nhiên tươi sạch (thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh).
- Vận động thể lực hợp lý: Cho trẻ tham gia các hoạt động chạy nhảy, bơi lội ngoài trời nhằm kích thích tạo xương tự nhiên và tổng hợp vitamin D qua da.
- Dùng thuốc theo chỉ định: Chỉ bổ sung canxi, vitamin D3 hoặc các vi chất khi có hướng dẫn về liều lượng và thời gian cụ thể từ bác sĩ.
Trẻ em còi xương cần một chế độ dinh dưỡng lành mạnh, vận động khoa học và can thiệp y tế chuẩn mực. Cha mẹ tuyệt đối không cho trẻ dùng cao gấu hay các loại cao xương trôi nổi để tránh nguy cơ rối loạn chuyển hóa và cốt hóa xương sớm khôn lường. Khi nghi ngờ trẻ chậm lớn, hãy đưa con đi khám chuyên khoa để nhận tư vấn phù hợp nhất.
