Na rừng là dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền, thường được người dân ngâm rượu hoặc sắc nước uống nhằm bồi bổ sức khỏe. Tuy nhiên, việc tự ý kết hợp thảo dược này với thuốc tây tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe khó lường.
Hiện nay, chưa có dữ liệu khoa học trực tiếp nào về ảnh hưởng của na rừng lên enzym chuyển hóa cytochrome P450 trong các tài liệu y khoa đã công bố. Dù vậy, các nghiên cứu chung về tương tác giữa thảo dược và hệ enzym này cho thấy việc phối hợp tùy tiện có thể làm biến đổi nồng độ thuốc điều trị trong cơ thể.
Vai trò của cytochrome P450 trong chuyển hóa thuốc
Cytochrome P450 (thường viết tắt là CYP) là một họ enzym xúc tác chủ yếu tại gan, đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển hóa các hợp chất lạ và thuốc điều trị. Hệ enzym này tham gia vào quá trình biến đổi sinh học của khoảng 75% các loại thuốc dùng trên lâm sàng [1].
Hoạt tính cũng như hiện tượng ức chế hoặc cảm ứng các enzym CYP là những thông số chính quyết định tốc độ đào thải hoặc tích tụ thuốc [1]. Chúng tham gia mật thiết vào quá trình giải độc hoặc làm tăng độc tính của nhiều tác nhân hóa học [1].
Khi một hoạt chất tự nhiên làm suy giảm hoạt tính của CYP, thuốc chuyển hóa qua con đường đó sẽ bị chậm phân hủy. Điều này dẫn đến sự tích lũy nồng độ thuốc trong máu, làm tăng nguy cơ quá liều và độc tính nghiêm trọng cho người bệnh [2]. Ngược lại, nếu thảo dược kích hoạt enzym hoạt động mạnh hơn, thuốc bị đào thải nhanh chóng khiến hiệu quả điều trị biến mất [3].
Thiếu hụt dữ liệu trực tiếp về na rừng
Nhiều người mặc định thảo dược tự nhiên là an toàn và vô hại khi dùng chung với thuốc tân dược [2]. Đây là quan niệm sai lầm lớn, bởi các hoạt chất thực vật hoàn toàn có khả năng tương tác chuyển hóa mạnh mẽ trong cơ thể [5, 6].
Đối với na rừng, hiện tại chưa có thử nghiệm lâm sàng hay nghiên cứu thực nghiệm nào đánh giá chiết xuất của loài cây này trên các phân nhóm enzym cytochrome P450 cụ thể. Các dữ liệu khoa học hiện có chỉ tập trung xem xét các hợp chất thực vật khác hoặc những dược liệu phổ biến khác đối với hệ thống enzym này.
Vì thiếu bằng chứng cụ thể trên na rừng, giới y khoa phải căn cứ vào các mô hình tương tác thảo dược - thuốc nói chung để đưa ra cảnh báo. Bất kỳ loài thảo dược nào chứa polyphenol hay các nhóm hoạt chất sinh học phức tạp đều tiềm ẩn khả năng can thiệp vào CYP [4].
Bằng chứng khoa học về tương tác thảo dược - CYP
Các nghiên cứu chuyên sâu đã chỉ ra nhiều hoạt chất chiết xuất từ thảo dược có thể ức chế mạnh các phân nhóm enzym CYP ở người [1, 5]. Chẳng hạn, celastrol chiết xuất từ cây Tripterygium wilfordii Hook F. được thử nghiệm trên vi hạt gan người bằng phương pháp cocktail nhằm đánh giá tương tác trên 5 enzym CYP quan trọng [5].
Kết quả thực nghiệm cho thấy celastrol ức chế cả 5 dạng đồng phân cytochrome P450 gồm CYP3A4 (IC50 = 2,65 µM), CYP2C19 (IC50 = 5,99 µM), CYP2D6 (IC50 = 6,27 µM), CYP1A2 (IC50 = 7,66 µM) và CYP2E1 (IC50 = 9,38 µM) [5]. Hoạt chất này ức chế phi cạnh tranh đối với CYP1A2 và CYP2E1 với giá trị Ki lần lượt là 1,41 và 2,29 µM; ức chế cạnh tranh đối với CYP2C19 và CYP2D6 với Ki lần lượt là 5,27 và 4,21 µM [5]. Riêng với CYP3A4, celastrol thể hiện cơ chế ức chế hỗn hợp với giá trị Ki là 2,02 µM và Kis là 5,49 µM [5].
Một nghiên cứu khác đánh giá tác động ức chế của axit caffeic và quercetin trên vi hạt gan người đối với các enzym CYP [4]. Kết quả ghi nhận cả axit caffeic và quercetin đều là chất ức chế cạnh tranh mạnh đối với CYP1A2 (Ki lần lượt là 1,16 và 0,93 µM) và CYP2C9 (Ki lần lượt là 0,95 và 1,67 µM) [4]. Axit caffeic ức chế cạnh tranh mạnh CYP2D6 (Ki = 1,10 µM) nhưng ức chế yếu CYP2C19 và CYP3A4 (IC50 > 100 µM) [4]. Ngược lại, quercetin là chất ức chế cạnh tranh mạnh CYP2C19 và CYP3A4 (Ki lần lượt là 1,74 và 4,12 µM), đồng thời ức chế cạnh tranh mức độ vừa phải với CYP2D6 (Ki = 18,72 µM) [4].
Nhiều phân tích tổng quan cũng tổng hợp nguy cơ tương tác thuốc từ thực vật [2, 3]. Một đánh giá năm 2021 phân tích tương tác của 189 loại thảo mộc, thực phẩm cùng 72 thực phẩm bổ sung thông qua các phân nhóm CYP3A4, CYP2D6, CYP1A2 và CYP2C8, lọc từ 140 thử nghiệm lâm sàng và 236 nghiên cứu in vitro, động vật hoặc báo cáo ca [6]. Nghiên cứu xác nhận 21 loại thảo dược và thực phẩm can thiệp trực tiếp vào CYP3A4, con đường chuyển hóa chính của nhiều loại thuốc ung thư, đồng thời tìm thấy 18 thử nghiệm báo cáo tương tác trực tiếp giữa 9 loại thảo dược/thực phẩm với 8 loại thuốc chống ung thư [6]. Một tổng quan năm 2022 cũng ghi nhận thymoquinone, quercetin, chiết xuất tỏi và chiết xuất cam thảo là những chất đã được chứng minh có khả năng ức chế các enzym khác nhau thuộc họ CYP [7].
Các nghiên cứu trên động vật cũng làm rõ vai trò điều hòa của thảo dược phối hợp lên biểu hiện enzym CYP [1]. Thử nghiệm trên chuột cho thấy dịch chiết Alangium chinense làm giảm đáng kể mức biểu hiện mRNA của Cyp1a2, Cyp2d4, Cyp2e1 và Cyp3a1 ở gan chuột so với đối chứng (tương ứng với các phân nhóm CYP1A2, CYP2D6, CYP2E1 và CYP3A4 ở người) [1]. Tuy nhiên, khi kết hợp vị thuốc này với các thảo dược hòa hợp trong bài thuốc Kim Cốt Liên, mức giảm biểu hiện mRNA của 4 enzym này đã được cải thiện rõ rệt [1].
Nghiên cứu trên 29 hợp chất furanocoumarin có cấu trúc liên quan cho thấy tiềm năng ức chế CYP3A có thể dự đoán qua sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP-HPLC) theo phương trình đường cong sigmoid: y = 85,36x / (14,86 + x) với hệ số tương quan 0,63 [8]. Mô hình này phân chia mức độ ức chế thành 3 vùng nguy cơ: thấp, trung bình và cao để đánh giá tương tác thảo dược [8].
Khoảng trống giữa thí nghiệm và thực tế lâm sàng
Mặc dù các dữ liệu thực nghiệm in vitro và trên mô hình động vật cho thấy rõ khả năng ức chế enzym của các hoạt chất thảo dược, việc áp dụng vào lâm sàng còn nhiều hạn chế [2]. Đa số các thử nghiệm mới dừng lại ở mức tế bào hoặc vi hạt gan, thiếu dữ liệu in vivo đầy đủ trên cơ thể người sống [5, 6].
Ngoài ra, enzym cytochrome P450 có tính đa hình di truyền rất cao giữa các cá thể người, khiến mức độ tương tác thuốc trên mỗi người là hoàn toàn khác nhau [2]. Việc dùng thảo dược càng làm cho việc điều chỉnh liều thuốc chính xác trở nên phức tạp hơn [2].
Đáng chú ý, một số báo cáo chỉ ra rằng dù tiềm năng tương tác giữa thảo dược và thuốc qua trung gian CYP là rất lớn về mặt lý thuyết, số lượng ca tương tác thực tế được ghi nhận đầy đủ trên lâm sàng đôi khi vẫn còn hạn chế [3]. Bên cạnh chuyển hóa qua gan, quá trình hấp thu và chuyển hóa tại đường ruột nhờ hệ vi sinh vật cũng ảnh hưởng lớn đến lượng thuốc hay hoạt chất vào máu [1]. Một số alkaloid thảo mộc có thể trải qua các phản ứng hydroxyl hóa, khử oxy, khử methyl hoặc thủy phân ester nhờ vi khuẩn ruột để làm giảm độc tính trước khi tới gan [1].
Hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược
Một hiểu lầm phổ biến là cho rằng thảo dược tự nhiên như na rừng hoàn toàn lành tính, uống lúc nào cũng được và không thể gây hại như hóa chất tây y [2]. Thực tế, hoạt chất tự nhiên khi vào cơ thể vẫn chịu sự chuyển hóa của gan và cạnh tranh trực tiếp với thuốc điều trị [5, 7].
Nhiều người tự ý ngâm rượu na rừng nồng độ đậm đặc uống hằng ngày trong khi vẫn đang dùng thuốc trị bệnh mạn tính. Thói quen sử dụng rượu bia vốn dĩ đã là một yếu tố làm thay đổi quá trình chuyển hóa thuốc qua hệ thống cytochrome P450 [3]. Khi kết hợp rượu cùng các hợp chất thảo mộc chưa rõ nồng độ, nguy cơ ngộ độc hoặc mất tác dụng của thuốc điều trị càng tăng cao.
Việc nghĩ rằng thảo dược có thể "giải độc gan" và làm sạch mọi loại thuốc tây cũng là sai lầm nguy hiểm. Nếu các chất trong dược liệu ức chế CYP, chúng không hề giải độc mà trái lại làm ứ đọng thuốc tây tại gan, gây ngộ độc tế bào gan [6, 7].
Những nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Bệnh nhân đang điều trị ung thư bằng hóa trị liệu cần tuyệt đối cẩn trọng, không tự ý dùng na rừng hay các chế phẩm thảo dược chưa có chỉ định [2, 4]. CYP3A4, CYP2D6, CYP1A2 và CYP2C8 là những con đường chuyển hóa thiết yếu của nhiều loại thuốc ung thư, bất kỳ sự thay đổi hoạt tính enzym nào cũng có thể dẫn đến thất bại điều trị hoặc ngộ độc cấp tính [2, 4].
Người đang sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh mạn tính có khoảng điều trị hẹp (như thuốc chống đông máu, thuốc tim mạch, thuốc chống động kinh) cần tránh dùng chung với na rừng. Khoảng 75% thuốc điều trị lâm sàng phụ thuộc vào chuyển hóa CYP [1], sự can thiệp của thảo dược có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ thuốc nguy hiểm [2].
Người có tiền sử suy giảm chức năng gan, viêm gan, xơ gan cần tránh dùng na rừng ngâm rượu hoặc dịch chiết thô. Gan của nhóm đối tượng này vốn đã giảm khả năng tổng hợp enzym CYP, việc đưa thêm các hoạt chất lạ vào sẽ làm tăng gánh nặng chuyển hóa [1]. Hiện tại hoàn toàn chưa có nghiên cứu an toàn của na rừng trên phụ nữ có thai, người cho con bú và trẻ nhỏ, do đó các nhóm này không nên sử dụng.
Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn
Do chưa có nghiên cứu lâm sàng xác định liều lượng an toàn của na rừng đối với hệ enzym gan, người tiêu dùng chỉ nên sử dụng ở mức độ vừa phải nếu dùng như một loại trà thưởng thức, không dùng thay thế thuốc trị bệnh.
Nếu đang phải uống bất kỳ loại thuốc tây y nào, người bệnh cần uống cách thời điểm dùng trà thảo dược ít nhất vài giờ và phải thông báo cho bác sĩ điều trị biết. Tuyệt đối không tự ý phối hợp na rừng với các bài thuốc cổ truyền khác mà không có sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa, tránh nguy cơ tương tác dược động học phức tạp [1].
Khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như mệt mỏi quá mức, vàng da, buồn nôn, nước tiểu sẫm màu hay chóng mặt trong quá trình dùng phối hợp thuốc và thảo dược, người bệnh cần ngừng sử dụng ngay lập tức và đến cơ sở y tế thăm khám.
Tóm lại, na rừng là một vị thuốc dân gian tiềm năng nhưng vẫn còn thiếu vắng các nghiên cứu hiện đại về tương tác dược động học. Việc hiểu đúng bản chất chuyển hóa qua enzym cytochrome P450 và tham vấn bác sĩ trước khi dùng chung với thuốc tân dược là biện pháp tốt nhất để bảo vệ sức khỏe.

