Nhiều người truyền tai nhau dùng nước sắc ngâu rừng chữa viêm khớp, viêm họng hoặc sưng đau ngoài da. Cách dùng này chủ yếu dựa kinh nghiệm dân gian qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế và độ an toàn ở người vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ.
Khoa học hiện đại mới dừng lại ở việc thử nghiệm dịch chiết ngâu rừng trên động vật và tế bào trong ống nghiệm. Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào khẳng định việc tự đun lá hoặc quả ngâu rừng uống có tác dụng trị viêm trên cơ thể người.
Cơ chế tác động sinh học được phát hiện trong phòng thí nghiệm
Cây ngâu rừng thuộc chi Aglaia, họ Xoan (Meliaceae), phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới như Đông Nam Á [1]. Các bộ phận của cây chứa nhiều nhóm hoạt chất sinh học đa dạng như triterpenoid, flavagline (rocaglamide), diterpenoid, steroid và alkaloid [1].
Một số hợp chất thuộc nhóm flavagline từ chi ngâu được xác định có khả năng ức chế yếu tố phiên mã NF-kappaB khi bị kích thích bởi TNF-alpha hoặc PMA trên tế bào lympho T [2]. Hoạt tính ức chế dòng tín hiệu này góp phần ngăn chặn phản ứng tiền viêm trong tế bào [2].
Bên cạnh đó, dịch chiết thực vật này còn cho thấy khả năng bảo vệ, ổn định màng dưỡng bào (mast cell) trước tác nhân kích ứng và phong tỏa thụ thể histamine [3]. Dưỡng bào và histamine là hai mắt xích gây giãn mạch, phù nề và tạo phản ứng dị ứng hoặc viêm mô liên kết [3].
Bằng chứng kháng viêm trên mô hình động vật
Nghiên cứu về hoạt tính dược lý thực hiện năm 1998 đã đánh giá dịch chiết cồn từ lá loài Aglaia roxburghiana var. beddomei [3]. Kết quả cho thấy dịch chiết lá thể hiện hoạt tính kháng viêm đáng kể trên cả mô hình viêm cấp tính và mạn tính ở chuột cống [3]. Dịch chiết này bảo vệ tế bào dưỡng bào khỏi hiện tượng mất hạt do hợp chất 48/80 gây ra, đồng thời ức chế sự co thắt hồi tràng do histamine trên chuột lang [3].
Đến năm 1999, các nhà khoa học tiếp tục thử nghiệm dịch chiết cồn từ phần trên mặt đất và quả của loài ngâu trên [4]. Nghiên cứu sử dụng hai mô hình gây viêm thực nghiệm trên chuột cống: mô hình phù chân do carrageenin (viêm cấp tính) và mô hình u hạt do viên bông gòn (viêm mạn tính) [4].
Kết quả ghi nhận dịch chiết từ quả, phần trên mặt đất cùng hai hợp chất triterpene phân lập được là roxburghiadiol A và B đều thể hiện hoạt tính kháng viêm mạnh [4]. Chúng làm giảm hiện tượng mất hạt tế bào dưỡng bào do hợp chất 48/80 gây ra, cho thấy vai trò của roxburghiadiol A và B trong hoạt tính kháng viêm của loài thực vật này [4].
Bằng chứng hoạt chất từ chi ngâu trên tế bào
Các nghiên cứu hóa thực vật xác định chi Aglaia chứa nhóm hợp chất flavagline rất đặc trưng [5], [1]. Flavagline sở hữu nhiều đặc tính sinh học bao gồm diệt côn trùng, kháng nấm, kháng ung thư và kháng viêm [5], [6], [1].
Năm 2006, nghiên cứu về các hợp chất cyclopenta[b]benzofuran từ chi Aglaia cho thấy nhóm chất này ức chế hoạt hóa NF-kappaB trong tế bào lympho T người [2]. NF-kappaB là con đường truyền tin thúc đẩy sản sinh các chất gây viêm [2].
Nghiên cứu tổng quan năm 2013 tiếp tục nhấn mạnh flavagline từ chi Aglaia có hoạt tính kháng viêm, bảo vệ tim mạch và bảo vệ thần kinh [6]. Dù vậy, cơ chế phân tử chính xác chịu trách nhiệm cho các tác động này vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn [6].
Giới hạn của dữ liệu khoa học hiện nay
Các nghiên cứu thực nghiệm hiện có chỉ khảo sát trên chuột cống, chuột nhắt, chuột lang hoặc tế bào cô lập trong phòng thí nghiệm [3], [2], [4]. Chưa có dữ liệu thử nghiệm lâm sàng trên người đối với các hoạt chất hay dịch chiết từ ngâu rừng.
Các nhà khoa học sử dụng dung môi như cồn ethanol để chiết xuất có kiểm soát, phân lập hoạt chất tinh khiết như roxburghiadiol A, B hay cyclopenta[b]benzofuran [3], [2], [4]. Phương pháp sắc thuốc bằng nước sôi truyền thống tại nhà không đồng nhất về nồng độ và khả năng hòa tan của các hoạt chất này.
Việc chiết xuất thủ công khó loại bỏ tạp chất và không kiểm soát được hàm lượng hoạt chất đưa vào cơ thể. Tác dụng ghi nhận trên mô hình động vật không thể suy diễn nguyên vẹn thành hiệu quả điều trị bệnh lý ở người.
Những hiểu lầm thường gặp về nước sắc ngâu rừng
Nhiều người tin dược liệu tự nhiên hoàn toàn vô hại, có thể uống thay nước lọc để phòng ngừa mọi chứng viêm mạn tính. Dù nghiên cứu năm 1998 ghi nhận dịch chiết lá không gây độc tính cấp ở chuột nhắt tới liều 2g/kg [3], dữ liệu này không chứng minh nước sắc an toàn khi dùng kéo dài trên người.
Nhiều hợp chất trong chi ngâu rừng như flavagline có hoạt tính sinh học rất mạnh và độc tính tế bào cao, vốn đang được nghiên cứu làm thuốc diệt côn trùng hoặc hóa trị ung thư [2], [5], [1]. Việc tự ý uống nước đun đậm đặc tiềm ẩn nguy cơ gây độc cho tế bào lành nếu dùng sai cách hoặc dùng quá liều.
Nước sắc thảo mộc không thể thay thế phác đồ điều trị của y học hiện đại đối với các bệnh viêm cấp hoặc viêm mạn tính nguy hiểm. Trì hoãn điều trị y khoa để uống nước lá có thể khiến bệnh diễn tiến nặng hơn.
Nhóm đối tượng cần thận trọng
Người có bệnh lý viêm khớp dạng thấp, viêm gan, viêm ruột mạn tính không tự ý bỏ thuốc điều trị để dùng nước ngâu rừng.
Chưa có nghiên cứu độc tính sinh sản hoặc an toàn của ngâu rừng trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ. Dữ liệu khoa học hiện chỉ thực hiện trên chuột, tế bào ung thư và mô hình động vật thí nghiệm [3], [2], [4]. Do đó, phụ nữ có thai, người cho con bú và trẻ em tuyệt đối không nên dùng.
Người đang dùng thuốc kháng histamine, thuốc chống viêm không steroid hoặc thuốc ức chế miễn dịch cần tránh tự ý kết hợp. Nguy cơ tương tác thuốc giữa các hoạt chất thực vật trong ngâu rừng và thuốc tân dược chưa được thiết lập rõ ràng.
Khuyến nghị áp dụng an toàn trong đời sống
Khoa học hiện chưa đưa ra khuyến cáo về liều lượng, số gram lá, tần suất uống hay thời điểm dùng cụ thể của ngâu rừng cho người bệnh. Người dân không tự ý thu hái, sắc uống hoặc ngâm rượu cây ngâu rừng theo các bài thuốc truyền miệng chưa được kiểm định.
Khi gặp các triệu chứng sưng đau, viêm sốt hoặc tổn thương mạn tính, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được thăm khám và chẩn đoán chính xác. Mọi ý định sử dụng thảo dược hỗ trợ kháng viêm cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia y học cổ truyền được cấp phép.
Ngâu rừng chứa nhiều hoạt chất sinh học tiềm năng cho nghiên cứu dược phẩm kháng viêm tương lai. Tuy nhiên, người dân cần giữ thái độ thận trọng, không biến bài thuốc truyền miệng chưa rõ cơ chế kiểm soát thành phương pháp trị bệnh tại nhà.


