Nhiều người dân có thói quen hái các loại cây cỏ quanh nhà đun nước uống hàng ngày nhằm mục đích thanh nhiệt hoặc hỗ trợ điều trị bệnh. Cây nàng nàng (thuộc chi Callicarpa) là một trong những loại thảo mộc mọc hoang dã thường được truyền miệng sử dụng theo kinh nghiệm dân gian. Tuy nhiên, việc tự ý sắc nước uống mà không nắm rõ đặc tính dược lý tiềm ẩn nhiều mối nguy cho sức khỏe.

Uống nước sắc cây nàng nàng hiện chưa được khẳng định là an toàn cho gan và thận ở người vì thiếu hoàn toàn các thử nghiệm lâm sàng bài bản. Bằng chứng khoa học về độc tính cấp và bán trường diễn của chi thực vật này trên người vẫn còn rất hạn chế [1]. Do đó, người dân tuyệt đối không nên tự ý đun uống liều cao kéo dài để phòng ngừa rủi ro ngộ độc.

Thói quen dùng thảo dược truyền miệng và nỗi lo độc tính

Trong đời sống thường nhật, không ít người tin rằng cây cỏ tự nhiên luôn lành tính và không gây hại cho tạng phủ. Cây nàng nàng cũng được một số bài thuốc dân gian sử dụng để cầm máu, giảm viêm hoặc chữa các chứng bệnh thông thường [1]. Khi gặp các vấn đề về sức khỏe, người bệnh dễ có xu hướng tự thu hái hoặc mua dược liệu không rõ nguồn gốc về sắc uống đậm đặc.

Thực tế y khoa cho thấy mọi chất đưa vào cơ thể qua đường uống đều phải trải qua quá trình chuyển hóa tại gan và đào thải qua thận. Nếu dược liệu chứa các hoạt chất có độc tính tế bào hoặc bị sử dụng vượt quá ngưỡng an toàn, gan và thận sẽ là hai cơ quan đầu tiên chịu tổn thương. Nguy cơ ngộ độc cấp tính hoặc tích tụ độc tính bán trường diễn hoàn toàn có thể xảy ra khi dùng thảo mộc tự phát.

Bản chất hóa học và cơ chế sinh học của chi Callicarpa

Chi thực vật Callicarpa (nàng nàng) đã được y học cổ truyền Trung Quốc ghi chép sử dụng qua nhiều thế kỷ để hỗ trợ các tình trạng như viêm nhiễm, thấp khớp, xuất huyết đường tiêu hóa hay tiểu ra máu [1]. Các phân tích hóa thực vật hiện đại đã xác định được hơn 200 hợp chất hóa học có mặt trong các loài thuộc chi này, phổ biến nhất là nhóm diterpene, triterpenoid và flavonoid [1].

Các chất chiết xuất thô cũng như các hợp chất đơn lập từ chi Callicarpa đã thể hiện nhiều tác động dược lý khác nhau trong các thử nghiệm in vitro và in vivo, chẳng hạn như chống viêm, cầm máu, giảm đau, chống oxy hóa và kháng khuẩn [1]. Tuy nhiên, các hoạt chất sinh học tự nhiên luôn là con dao hai lưỡi. Nhiều phân tử có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế vi sinh vật, tế bào ung thư cũng đồng thời mang độc tính nhất định đối với các tế bào khỏe mạnh của động vật có vú [1, 2].

Bằng chứng khoa học nói gì về độc tính của cây nàng nàng?

Một tổng quan nghiên cứu công bố năm 2013 về chi Callicarpa đã nêu bật một thực trạng đáng lo ngại: dù được ứng dụng lâu đời trong y học cổ truyền, dữ liệu đánh giá khoa học về mặt độc tính của toàn bộ chi này còn rất khiêm tốn [1]. Theo báo cáo, trên tổng số các loài thảo dược thuộc chi, mới chỉ có ba loài được tiến hành đánh giá về góc độ độc tính [1]. Các cơ chế tác động chi tiết của các hoạt chất vẫn đang là quá trình nghiên cứu dang dở [1].

Trong một nghiên cứu năm 2003 trên loài Callicarpa acuminata, các nhà khoa học đã tiến hành phân lập dịch chiết lá và các phân đoạn hóa học để kiểm tra độc tính sinh học [2]. Dịch chiết nước, dịch chiết cloroform-methanol và các phân đoạn sắc ký của lá làm ức chế sự phát triển rễ của thực vật thử nghiệm từ 23% đến 70% [2]. Các nhà nghiên cứu phân lập được các hợp chất gồm axit isopimaric, hỗn hợp hai diterpenol (sandaracopimaradien-19-ol và akhdarenol), alpha-amyrin và salvigenin [2].

Đáng chú ý, khi thử nghiệm trên tế bào, tất cả các hợp chất phân lập được đều biểu hiện độc tính đối với tế bào côn trùng Sf9 [2]. Đồng thời, các hợp chất salvigenin, akhdarenol và axit isopimaric cũng gây ảnh hưởng độc hại trực tiếp lên tế bào buồng trứng của chuột túi má Trung Quốc (tế bào CHO thuộc lớp động vật có vú) [2]. Việc các hoạt chất này gây độc cho tế bào động vật có vú trong ống nghiệm cho thấy chiết xuất của cây không hề trơ hay vô hại với mô sinh học [2].

Năm 2012, một nghiên cứu khác phân lập bốn hợp chất mới đặt tên là callilongisin A-D cùng năm chất quen thuộc từ lá và cành của loài Callicarpa longissima [3]. Các nhà khoa học đã ghi nhận hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất này đối với dòng tế bào ung thư tuyến tiền liệt ở người (PC3) và đánh giá hoạt tính chống viêm của chúng [3]. Tác động gây độc tế bào cho thấy tính chất dược lý mạnh mẽ của các diterpene có trong cây [3].

Ở khía cạnh bảo vệ tạng, một nghiên cứu công bố năm 2023 đã phân tích thành phần của năm loài Callicarpa và thử nghiệm trên chuột bị tăng axit uric máu do dùng potassium oxonate [4]. Nghiên cứu định danh được 151 hợp chất và ghi nhận chiết xuất lá của ba loài C. macrophylla, C. nudiflora và C. formosana có khả năng đảo ngược tình trạng sụt cân, nồng độ axit uric, creatinine, hoạt độ men XOD ở gan, cũng như cải thiện tổn thương và viêm ở mô thận, gan và khớp cổ chân của chuột [4]. Tuy nhiên, chiết xuất từ C. kochiana và C. kwangtungensis lại cho thấy ít tác dụng cải thiện hơn [4]. Cần lưu ý rõ, đây là thử nghiệm trên mô hình chuột bệnh nhân tạo, không thể đồng nhất kết quả này với sự an toàn tuyệt đối khi sắc uống trên cơ thể người khỏe mạnh hoặc người có bệnh lý nền.

Một nghiên cứu vào năm 2000 về tinh dầu của Callicarpa americana chưng cất bằng hơi nước cũng cho thấy sự hiện diện của 67 thành phần hóa học, nổi bật là humulene epoxide II (13,9%), alpha-humulene (10,0%), 7-epi-alpha-eudesmol (9,4%), beta-pinene (8,8%) và 1-octen-3-ol (8,5%) [5]. Tinh dầu này thể hiện độc tính chọn lọc gây ức chế sinh trưởng hoàn toàn đối với vi khuẩn lam Oscillatoria perornata ở nồng độ 28,5 microgram/mL, đồng thời có độc tính nhẹ đối với nấm và thực vật [5].

Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2017 sử dụng phương pháp chuyển hóa học để phân biệt ba loài Callicarpa làm thuốc đã xác định được 34 hợp chất, gồm 19 phenylethanoid glycoside, 10 flavonoid và 5 terpenoid, trong đó có 30 chất đánh dấu quan trọng [6]. Nghiên cứu này khẳng định sự khác biệt phức tạp về thành phần hóa học giữa các loài có mối quan hệ gần nhau trong cùng một chi [6].

Lợi ích tiềm năng và giới hạn lớn của các bằng chứng hiện nay

Dữ liệu khoa học xác nhận chi Callicarpa chứa đựng kho tàng hợp chất phong phú có tiềm năng chống viêm, giảm đau, hỗ trợ cầm máu hoặc hạ axit uric trên mô hình động vật [3, 7]. Dù vậy, ranh giới giữa tác dụng sinh học có lợi và phản ứng độc tính thường rất mong manh. Đa số các bằng chứng hiện có chỉ dừng lại ở mức thử nghiệm ống nghiệm (in vitro) hoặc trên chuột thực nghiệm (in vivo) [1, 2, 7].

Hiện tại, hoàn toàn chưa có các thử nghiệm lâm sàng chuẩn mực trên người nhằm đánh giá độc tính cấp tính khi dùng một liều rất cao, hoặc độc tính bán trường diễn khi tích lũy nước sắc dược liệu qua nhiều tuần, nhiều tháng. Nghiên cứu tổng quan đã chỉ rõ rằng dữ liệu an toàn của hầu hết các loài nàng nàng đều đang bị bỏ ngỏ [1]. Do đó, việc khẳng định uống nước sắc cây nàng nàng an toàn cho gan và thận người là thiếu căn cứ xác thực.

Những hiểu lầm nguy hiểm khi dùng cây cỏ tự nhiên

Sai lầm phổ biến nhất của người dân là mặc định cây mọc tự nhiên thì uống bao nhiêu cũng không độc. Nhiều người cho rằng nước lá nàng nàng có thể uống thay nước lọc cả ngày để "mát gan", "giải độc thận". Lối suy nghĩ này rất nguy hại, bởi các hợp chất tự nhiên như diterpene hay flavonoid khi dung nạp quá mức đều đòi hỏi các enzyme gan phân giải và cầu thận lọc bỏ, dễ dẫn đến quá tải chuyển hóa [1, 3].

Một hiểu lầm khác là tự ý gộp chung mọi cây có hình dáng tương tự nhau vào một công dụng. Chi Callicarpa bao gồm nhiều loài khác nhau, và thành phần hóa học giữa các loài có sự phân hóa đáng kể [5, 7]. Chẳng hạn, chiết xuất từ một số loài có thể cải thiện tổn thương mô ở chuột, nhưng các loài khác trong cùng chi lại cho hiệu quả rất kém [4]. Việc người dân tự hái lá dại không thể phân biệt được chính xác loài, dẫn đến nguy cơ ngộ độc do nhầm lẫn hoặc uống phải phân loài có độc tính tế bào cao [2].

Những nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Do tính chất thiếu hụt dữ liệu an toàn trên người, nhóm đối tượng đầu tiên cần tuyệt đối tránh tự ý uống nước sắc cây nàng nàng là những người đã có sẵn bệnh lý về gan và thận. Những người bị suy giảm chức năng gan, xơ gan, viêm gan, suy thận mạn tính có cơ quan giải độc và bài tiết bị suy yếu, rất dễ rơi vào tình trạng ngộ độc cấp tính hoặc tổn thương tạng thứ phát.

Phụ nữ mang thai, bà mẹ đang cho con bú và trẻ nhỏ là những đối tượng rất nhạy cảm tuyệt đối không được sử dụng loại nước sắc truyền miệng này. Do các thành phần trong cây đã được chứng minh có thể gây độc cho các dòng tế bào động vật có vú trong phòng thí nghiệm, nguy cơ đối với sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh là hoàn toàn không thể lường trước [2]. Ngoài ra, những người đang điều trị bằng thuốc tây y điều trị bệnh mạn tính cũng cần tránh xa để phòng ngừa tương tác chuyển hóa thuốc tại gan.

Khuyến cáo áp dụng thực tế và an toàn

Nếu muốn sử dụng cây nàng nàng cho các mục đích chữa bệnh theo y học cổ truyền, người dân tuyệt đối không tự ý tìm hái cành lá để đun nước uống hàng ngày với nồng độ đậm đặc. Người dùng cần đến các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền uy tín đã được cấp phép để được các bác sĩ và thầy thuốc có chuyên môn thăm khám, chẩn đoán đúng thể bệnh.

Khi chưa có dữ liệu nghiên cứu về liều lượng an toàn chuẩn hóa trên người, tuyệt đối không tự áp dụng bất kỳ công thức sắc thuốc nào qua truyền miệng mạng xã hội. Thảo dược khi được kê đơn cần có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đã qua quy trình kiểm nghiệm chất lượng, sơ chế loại bỏ độc tố và được phối ngũ với liều lượng vừa phải. Trong quá trình điều trị, nếu xuất hiện các biểu hiện bất thường như buồn nôn, mệt mỏi, vàng da, nước tiểu sẫm màu hoặc đau tức vùng hạ sườn, phải ngừng ngay việc dùng thảo dược và đến bệnh viện kiểm tra chức năng gan thận.

Việc bảo vệ sức khỏe gan và thận cần dựa trên các biện pháp khoa học đã được kiểm chứng như chế độ dinh dưỡng cân bằng, uống đủ nước lọc sạch và duy trì lối sống lành mạnh. Thảo dược tự nhiên tuy có giá trị nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ nếu thiếu hiểu biết khoa học. Hãy luôn thận trọng và tham vấn bác sĩ trước khi đưa bất kỳ loại nước sắc thảo mộc nào vào cơ thể.