Dân gian dùng vỏ thân, vỏ rễ cây lát hoa trị tiêu chảy, sốt [2, 6]. Nhiều người tin bài thuốc cổ truyền an toàn, hiệu quả tức thì. Thực tế khoa học có chứng minh công dụng này trên người?

Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng xác nhận vỏ lát hoa chữa dứt điểm tiêu chảy hoặc hạ cơn sốt ở người. Dữ liệu khoa học mới ghi nhận khả năng kháng khuẩn, chống viêm, hạ ký sinh trùng sốt rét ở tế bào và động vật [1, 2, 4, 7]. Tự ý dùng vỏ cây tươi tiềm ẩn rủi ro độc tính.

Quan niệm dân gian và cơ chế dược lý

Dân gian truyền tai vỏ lát hoa se niêm mạc ruột, cầm tiêu chảy, giải nhiệt nhanh [2, 6]. Y học cổ truyền coi vỏ rễ lát hoa là vị thuốc khu phong, thanh nhiệt [1]. Cơ chế này xuất phát từ vị chát giàu hợp chất polyphenol và tannin tự nhiên của vỏ cây [2].

Về mặt hóa học thực vật, tannin tạo liên kết với protein niêm mạc ruột, kết tủa màng bảo vệ ngăn bài tiết dịch thừa, giảm nhu động ruột cục bộ. Chiết xuất phenolic dồi dào từ vỏ và lá còn hỗ trợ chống oxy hóa tế bào [3, 8]. Tuy nhiên, ức chế cơ học này không đồng nghĩa diệt sạch căn nguyên gây tiêu chảy do ngộ độc hay nhiễm khuẩn nặng.

Bên cạnh đó, phản ứng sốt kích hoạt qua con đường giải phóng cytokine viêm. Nếu dược liệu chặn được các tín hiệu gây viêm mô, thân nhiệt có thể giảm gián tiếp. Hoạt chất limonin nhóm phragmalin trong chiết xuất lát hoa được ghi nhận có khả năng can thiệp vào các đường truyền tín hiệu này [2, 7].

Bằng chứng khoa học về kháng khuẩn và chống viêm

Năm 2001, nghiên cứu phân tích thành phần hóa thực vật và hoạt tính kháng khuẩn của lá lát hoa (Chukrasia tabularis) [3]. Thí nghiệm dùng các phân đoạn chiết xuất liên tiếp với ether dầu hỏa, benzen, cloroform, ethyl acetat, methanol [3]. Kết quả cho thấy phân đoạn ethyl acetat và methanol thể hiện hiệu quả ức chế mạnh nhất đối với phần lớn vi sinh vật và nấm được thử nghiệm [3].

Năm 2022, nghiên cứu phân lập hoạt chất kháng viêm từ chiết xuất vỏ rễ cây lát hoa qua phân đoạn diclorometan [4]. Tác giả tìm ra 2 limonin phragmalin mới đặt tên Chukrasitin D và E, cùng 12 hợp chất limonin đã biết [4]. Thử nghiệm trên tế bào đại thực bào RAW264.7 chuột bị kích thích bởi lipopolysaccharide (LPS) cho thấy Chukrasitin D và E ức chế oxit nitric (NO) mạnh với giá trị IC50 lần lượt là 6,24 và 6,13 microM [4]. Chukrasitin D ức chế đáng kể sự sản sinh yếu tố phiên mã NF-kappaB, yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF-alpha) và interleukin 6 (IL-6) [4].

Đến năm 2023, nghiên cứu sâu hơn về đường truyền tín hiệu viêm tiếp tục chiết xuất nhóm limonin từ lát hoa trên tế bào đại thực bào RAW264.7 [5]. Hợp chất limonin số 2 cho hoạt tính kháng viêm mạnh với giá trị IC50 đạt 4,58 microM qua ức chế NO, IL-6 và TNF-alpha [5]. Nghiên cứu xác định hoạt chất này phong tỏa đường truyền tín hiệu JAK2/STAT3, iNOS/eNOS và NF-kappaB, giúp làm giảm chất trung gian gây viêm [5].

Năm 2011, nghiên cứu khảo sát dịch chiết methanol từ lá lát hoa qua phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [6]. Kết quả phát hiện sự hiện diện của acid gallic, epicatechin, 7-hydroxycoumarin và rutin [6]. Dịch chiết và các phân đoạn thể hiện khả năng quét gốc tự do ABTS, gốc superoxide anion và kháng đột biến trên hai chủng vi khuẩn Salmonella typhimurium TA98 và TA100 thử nghiệm bằng phương pháp Ames [6].

Tác dụng chống oxy hóa và hạ sốt do ký sinh trùng

Năm 2008, nghiên cứu đo hoạt tính chống oxy hóa của các phân đoạn cloroform, ethyl acetat, n-butanol và nước từ dịch chiết methanol 80% lá lát hoa [7]. Kết quả cho thấy phân đoạn ethyl acetat đạt mức ức chế gốc tự do DPPH lên tới 93,14%, ức chế phân hủy deoxyribose không đặc hiệu đạt 89,99%, đặc hiệu đạt 87,04% và khử ferricyanide đạt 91,20% [7]. Hiệu quả dọn gốc tự do tỉ lệ thuận trực tiếp với hàm lượng phenolic [7].

Năm 2009, nghiên cứu đánh giá sự ức chế peroxy hóa lipid trên mô gan đồng nhất chuột cho thấy phân đoạn giàu polyphenol từ vỏ thân và lá lát hoa bảo vệ màng acid béo không bão hòa tốt [2]. Phân đoạn ethyl acetat của vỏ cây đạt tỉ lệ ức chế peroxy hóa màng lipid lên tới 83,02%, trong khi phân đoạn lá đạt 88,62%, làm giảm nồng độ malondialdehyde [2].

Năm 2016, nghiên cứu tác dụng chống sốt rét của vỏ thân lát hoa được thực hiện trên mô hình chuột sống và ống nghiệm [8]. Nghiên cứu dùng dịch sắc nước nóng và chiết xuất methanol [8]. Kết quả trên chuột nhiễm ký sinh trùng cho thấy chiết xuất methanol vỏ thân liều 800 mg/kg đạt tỉ lệ ức chế ký sinh trùng 83,65 ± 0,66%, so với thuốc đối chứng chloroquine diphosphate đạt 90,36 ± 0,04% [8].

Thử nghiệm in vitro trên chủng ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum nhạy chloroquine (D6) ghi nhận dịch chiết nước của vỏ thân có giá trị IC50 là 10,739 microg/mL, đồng thời có hoạt tính trên chủng kháng thuốc (W2) [8]. Dù vậy, hiệu lực này vẫn kém xa thuốc artemisinin (IC50 < 0,0264 microg/mL) và chloroquine (IC50 < 0,163 microg/mL) [8].

Giới hạn bằng chứng và các hiểu lầm thường gặp

Nhiều người lầm tưởng uống nước sắc vỏ cây lát hoa là hạ sốt lập tức do tiêu diệt mọi loại vi khuẩn, virus thông thường. Bằng chứng hiện tại chỉ ra chiết xuất vỏ thân có hoạt tính chống ký sinh trùng sốt rét Plasmodium trên chuột và tế bào, không phải thuốc hạ thân nhiệt chung cho mọi chứng sốt cảm cúm hay sốt xuất huyết [8].

Thực nghiệm kháng viêm, kháng khuẩn của lát hoa mới chỉ dừng ở mức ống nghiệm tế bào nuôi cấy (RAW264.7) hoặc chiết đoạn dung môi hữu cơ tinh sạch như methanol, ethyl acetat [1, 2, 7]. Dung môi phòng thí nghiệm khác xa cách sắc vỏ cây thô sơ trong nước tại nhà [1, 4].

Cơ thể con người chuyển hóa phức tạp, hấp thu qua đường tiêu hóa không giống tế bào cô lập. Cho đến nay, chưa có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nào trên người chứng minh vỏ lát hoa điều trị tiêu chảy nhiễm trùng hay hạ sốt an toàn. Uống nước vỏ cây đậm đặc dễ làm bỏng rát niêm mạc dạ dày do độc tính tế bào chưa kiểm soát [8].

Năm 2018, nghiên cứu phân lập 6 limonin phragmalin mới và 2 chất đã biết từ thân cây lát hoa cho thấy không chất nào có hoạt tính ức chế men alpha-glucosidase và acetylcholinesterase in vitro [1]. Do đó, các tuyên bố thần thánh hóa toàn bộ hoạt chất từ vỏ thân lát hoa là thiếu cơ sở khoa học [1].

Ai nên thận trọng?

Phụ nữ mang thai và mẹ đang cho con bú tuyệt đối không tự ý dùng nước sắc vỏ lát hoa. Chưa có bất kỳ nghiên cứu an toàn nào trên nhóm đối tượng nhạy cảm này, trong khi một số phân đoạn vỏ cây có hoạt tính gây độc tế bào in vitro [8].

Trẻ nhỏ bị tiêu chảy và sốt cao rất dễ rơi vào tình trạng mất nước cấp, rối loạn điện giải đe dọa tính mạng. Cho trẻ dùng vỏ chát bừa bãi có thể làm liệt ruột cơ năng, tắc ruột do tannin kết tủa mà không loại bỏ được độc tố vi khuẩn.

Người có bệnh nền suy gan, suy thận mạn hoặc loét dạ dày tá tràng cần tránh xa. Dịch chiết thô từ vỏ thân chứa hỗn hợp nhiều hoạt chất chưa qua tinh chế, làm tăng gánh nặng lọc thải cho gan thận và gây kích ứng đường tiêu hóa [4, 8].

Người đang điều trị thuốc tây y (thuốc hạ áp, thuốc chống đông, kháng sinh) không phối hợp nước sắc lát hoa. Các hợp chất polyphenol và limonin có thể tương tác làm thay đổi sinh khả dụng của thuốc điều trị chính [2, 5].

Khuyến cáo áp dụng thực tế

Khi bị tiêu chảy cấp, mục tiêu quan trọng hàng đầu là bù nước và điện giải bằng dung dịch Oresol pha đúng tỉ lệ, kết hợp chế độ ăn lỏng, dễ tiêu như cháo loãng, súp thịt nạc. Không tự ý uống nước sắc vỏ cây để "cầm" tiêu chảy tức thì, vì làm giữ độc tố vi khuẩn trong lòng ruột.

Nếu bị sốt, người bệnh cần nghỉ ngơi nơi thoáng khí, chườm ấm nách, bẹn và uống đủ nước. Khi sốt cao trên 38,5 độ C, nên sử dụng thuốc hạ sốt thông thường theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ hoặc dược sĩ.

Trường hợp tiêu chảy kéo dài trên 24 giờ, phân có lẫn máu, hoặc sốt cao không hạ kèm co giật, lơ mơ, cần đến ngay cơ sở y tế để xét nghiệm máu, phân nhằm chẩn đoán đúng nguyên nhân. Dược liệu vỏ lát hoa chỉ nên xem là nguồn tiềm năng để các nhà khoa học tiếp tục chiết tách dược chất phục vụ y học tương lai [2, 7].

Vỏ cây lát hoa chứa nhiều hoạt chất sinh học quý như limonin, polyphenol có tác dụng kháng viêm, chống oxy hóa và ức chế ký sinh trùng trong phòng thí nghiệm [2, 4, 8]. Tuy nhiên, dược liệu này chưa được kiểm chứng lâm sàng về hiệu quả trị tiêu chảy hay hạ sốt trên người. Người bệnh cần tỉnh táo, không tự ý dùng bài thuốc truyền miệng để tránh nguy cơ ngộ độc và bỏ lỡ thời điểm điều trị y tế chuẩn xác.