Theo tài liệu cổ (Nam dược thần hiệu), bọ hung đốt tồn tính, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g với nước tiểu trẻ em chữa lam chướng, sốt rét; nếu uống với rượu vào lúc đói lại chữa kiết lỵ. Để chữa chứng kinh giản, phát cuồng, trẻ em sài giật, mụn nhọt, táo bón, lấy bọ hung (1 con) đã nướng chín, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày.
Dùng ngoài, bọ hung tán nhỏ, trộn với giấm, đắp chữa mụn lở. Bọ hung (1 con) đốt tồn tính tán bột; cho bột này cùng với dầu vừng hoặc dầu lạc (50 ml) vào một củ ráy to đã khoét bỏ ruột. Nấu nhừ thành cao. Để nguội, bôi ngày 1-2 lần chữa chốc đầu. Bột bọ hung đốt tồn tính trộn vói bột băng phiến, rồi hòa vối giấm bôi lại chữa trĩ, lòi dom, tràng nhạc. Để rút mũi tên cắm vào da thịt, dùng bọ hung (hoặc bọ ngựa) 1 con, giã nát, trộn với nửa hạt ba đậu tươi đã bóc vỏ, sao qua, tán nhỏ, đắp vào vết thương, một lát sau hết đau. Khi thấy ngứa nhiều, nhổ mũi tên ra, rồi lấy hoàng liên và quán chúng sắc nước để rửa, sau cùng, lấy sáp ong nấu với dầu vừng thành cao mà đắp là khỏi.
Theo kinh nghiệm dân gian, để lấy mảnh đạn ghim trong vết thương, lấy bọ hung phối hợp với lá bồ cu vẽ, lá vông vang, rau muống, củ hành giã nhuyễn với xôi nếp hoặc bọ hung (1 con, đốt thành than), lá gió giấy hoặc lá ớt rừng (1 nắm, phơi khô, tán bột) trộn đều, tẩm rượu, đắp đối diện với vết thương bị mảnh đạn để làm thuốc tống hay đẩy. Rồi lấy hạt đỗ xanh, rau muống, rau húng dũi, lá vông vang, lá ké hoa vàng, vỏ cây chân chim, giã nát, đắp thẳng vào vết thương làm thuốc rút…