Dược liệuRanunculaceae
Ô Đầu Việt Nam
Aconitum fortunei Hemsl
Tên gọi khác: co u tàu (Thái), Củ ấu tàu, Củ gấu tàu, xuyên ô, Thảo ô, ú tàu (Tày)
Tên tiếng Anh: Spreading-Hair Monk’Shood
Tại những vùng có cây này mọc hoang, nhân dân thường hái thái mỏng ngâm rượu, dùng xoa bóp những nơi nhức mỏi, sai khớp, dập gẫy chân tay. Ta có thể chế ô đầu của ta để thay âu ô đầu.
Cách sử dụng trong đời sống
- Trong y học hiện đại, ô đầu được dùng làm thuốc chữa ho, sưng đau dưới dạng cồn thuốc 1:10. Lưu ý thuốc độc bảng A, khi dùng phải hết sức thận trọng Trong y học cổ truyền ô đầu được các vị lương y thống nhất và coi là vị thuốc rất độc, còn phụ tử có người cho là độc, người khác lại không độc vì có thể dùng hàng gam đến 40-50g. Khi dùng diêm phụ tử có người chỉ rửa hết muối, thái mỏng phối hợp với các vị thuốc khác , đặc biệt với cam thảo và gừng sống, sắc kỹ gạn lấy nước rồi uống. Tuy nhiên nhiều người cho dám dùng diêm phụ tử sau khi đã nấu nhiều lần với đậu đen. Do độc lớn nên trong y học cổ truyền, ô đầu chỉ được dùng để xoa bóp chân tay nhức mỏi, đau thuốc dưới dạng rượu ngâm. Ở miền núi cao, một số người đã dùng ô đầu làm thuốc dưới nhiều hình thức như nấu cháo, ngâm rượu uống và xoa bóp. Để đảm bảo an toàn, khi dùng ô đầu phụ tử phải hết sức thận trọng, chỉ dùng những chế phẩm đã được bào chế kỹ, phối hợp với các vị thuốc khác để giảm độc. Bài thuốc có ô đầu, phụ tử Chữa đau xương, sai khớp: Ô đầu, nghệ rừng, nhân hạt gấc, mật gấu, mật trăn, huyết linh. Tất cả ngâm rượu. Dùng xoa bóp ngày 2 lần, không được uống. Chữa trúng hàn, hôn mê, ngộ lạnh nôn tháo: Phụ tử sống (sinh phụ tử) và gừng lùi chín, mỗi vị 20g. Sắc uống nhiều lần. Cập nhật: 23/11/2023 ★★★★★★5.0 - 1 đánh giá Chia sẻ Chia sẻ
