Dược liệuPoaceae
Tre
Bambusa arundinacea (Retz.) Willd.
Tên gọi khác: Tre nhà
Chữa cảm sốt, khát nước, ra nhiều mồ hôi, ho, suyễn, thổ thuyết, trẻ con kinh phong.
Cách sử dụng trong đời sống
- Lá tre được dùng chữa cảm sốt, khát nước, ra nhiều mồ hôi, ho, suyễn, thổ thuyết, trẻ con kinh phong. Ngày dùng 20g dưới dạng nước sắc. Nếu sốt cao, dùng trúc diệp phối hợp với bột thạch cao nung (12g). Dùng ngoài, lấy lá tre, nấu với lá bưởi, củ sả, cúc tần, hương nhu, bạc hà, rồi xông làm thuốc giải cảm, chữa nhức đầu và chống cúm. Búp tre hay đọt tre phối hợp với các vị khác chữa đái buốt, đái nhắt, và lỵ mạn tính. Trúc nhự chữa cảm sốt, buồn phiền, bứt rứt, với liều mỗi ngày 10 – 20g dưới dạng nước sắc. Trúc nhự phối hợp với gừng sống (3 lát) sắc uống chữa nôn oẹ khi có thai; với lá bưởi bung, lá chanh và lá tầm xoọng (lượng bằng nhau), phơi khô, tán bột rắc, chữa mụn rò mủ lâu ngày; với mạch môn, mỗi vị 16g sắc uống chữa ho đờm, hồi hộp không ngủ, nếu sao qua tán nhỏ, mỗi lần dùng 12g, uống với nước nóng lại chữa kinh nguyệt ra nhiều, rong kinh. Măng tre giã nát, ép lấy nước uống cùng với nước gừng chữa sốt cao. Người tỳ vị hư hàn hoặc đang dưỡng bệnh không nên dùng măng tre vì khó tiêu. Người bị bệnh sốt rét ăn măng tre dễ bị tái phát. Mo nang tre đốt thành than, tán nhỏ, rắc chữa mọn nhọt đã vỡ mủ, lở loét lâu ngày, sâu quảng. Ở Ấn Độ, lá tre được dùng làm thuốc trị ho và cảm lạnh. Măng tre non chứa 0,03% acid hydrocyanic độc gây chết bọ gậy. Măng sống hoặc luộc chưa kỹ mà ăn có thể gây chết. Măng tre có trong thành phần một bài thuốc cổ truyền Ấn Độ gồm nhiều vị để điều trị sỏi niệu. Theo kinh nghiệm dân gian Ấn Độ, người phụ nữ ăn măng tre lên men trong một tháng để…
