Nhiều người coi sụn vi cá nhám như thần dược bổ xương khớp hoặc ngừa khối u. Thói quen tự ý mua dùng dạng viên bột, cao chiết xuất diễn ra khá phổ biến trên thị trường thực phẩm bổ sung.

Tuy nhiên, các hoạt chất sinh học mạnh mẽ cùng nguồn khoáng chất phong phú trong sụn cá nhám không hoàn toàn an toàn cho mọi thể trạng. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh sụn cá chứa các phân tử ức chế mạnh sự hình thành mạch máu mới, đồng thời tích tụ lượng lớn canxi khoáng và kim loại nặng từ đại dương. Dưới đây là 4 nhóm người cần hết sức cẩn trọng hoặc ngưng sử dụng sản phẩm này.

Cơ chế tác động sinh học của sụn vi cá nhám

Sụn cá nhám là một phức hợp sinh học tự nhiên chứa chủ yếu collagen type II, proteoglycan và chondroitin sulfate [1]. Đây là những thành phần tự nhiên cấu tạo nên mô sụn và dịch bôi trơn ổ khớp [1]. Tuy nhiên, khác với sụn động vật có vú, bộ xương cá nhám chứa hàm lượng cực cao các yếu tố ức chế tăng sinh mạch máu (anti-angiogenic factors) [1, 2].

Về mặt cấu trúc vi mô, sụn cột sống cá nhám chứa khoáng chất bioapatite (tinh thể canxi phosphat) đan kết chặt chẽ với các sợi collagen [2]. Quá trình khoáng hóa cao ở các vùng mô như thể vôi hóa (corpus calcarea) khiến lượng muối canxi vô cơ tích tụ với mật độ dày đặc [2]. Đồng thời, các phân tử protein có trọng lượng dưới 10 kDa trong sụn cá có khả năng can thiệp trực tiếp vào chu trình phân chia tế bào nội mô mạch máu [3].

Khi đi vào hệ tuần hoàn, các hoạt chất này đồng thời tác động lên hệ thống mạch máu, chuyển hóa khoáng chất xương và tế bào miễn dịch [4]. Điều này giải thích tại sao một số nhóm đối tượng mang đặc điểm sinh lý nhạy cảm có thể gặp tác dụng phụ nghiêm trọng khi bổ sung liên tục.

Các nghiên cứu khoa học ghi nhận điều gì?

Năm 1983, một nghiên cứu tiên phong đã công bố sụn cá nhám chứa lượng lớn hoạt chất ức chế các mạch máu mới tiến vào khối u rắn, từ đó kìm hãm kích thước u phát triển [5]. Nghiên cứu chỉ ra nguồn ức chế tạo mạch này phong phú hơn hẳn so với sụn từ các loài động vật có vú thông thường [5].

Đến năm 1996, thí nghiệm trên tế bào nội mô tĩnh mạch rốn người (HUVEC) cho thấy dịch chiết sụn cá nhám tạo ra sự suy giảm phụ thuộc nồng độ vào khả năng hấp thu 3H-thymidine [3]. Hoạt tính này bền nhiệt và nằm trong các phân đoạn phân tử nhỏ hơn 10 kDa [3]. Cụ thể, sụn cá nhám ở nồng độ 500 mcg/ml làm giảm 32% khả năng tăng sinh tế bào nội mô mạch máu [3]. Khi kết hợp cùng yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF-alpha) ở nồng độ 10 ng/ml, tỷ lệ ức chế tăng sinh lên mức 44% [3]. Đặc biệt, tác động ức chế này mang tính chọn lọc trên nội mô mạch máu, không làm ảnh hưởng đến nguyên bào sợi da hay tế bào hình sao của người [3].

Năm 2001, các nhà khoa học thử nghiệm trên mô hình giác mạc thỏ bằng cách cấy viên nén giải phóng chậm chứa yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ bản (bFGF) để kích thích tân tạo mạch [6]. Động vật được cho uống bột sụn cá nhám thương mại với liều 100 mg/kg thể trọng, hoặc dùng thalidomide liều 200 mg/kg làm đối chứng dương [6]. Kết quả stereo microscopy xác nhận uống bột sụn cá nhám 100 mg/kg gây ức chế tân tạo mạch do bFGF tương tự thalidomide [6]. Phân đoạn tan trong nước (WSF) ở mức 50, 100 hoặc 200 mcg cũng ngăn chặn tân mạch tại chỗ, chứng minh uống sụn cá nhám tạo nồng độ ức chế tạo mạch toàn thân [6].

Một thử nghiệm năm 2003 trên chuột mang khối u phát hiện phân đoạn protein 14-15 kDa từ sụn cá kích thích miễn dịch quá mẫn trễ, đồng thời làm tăng rõ rệt tỷ lệ tế bào lympho T CD4/CD8 thâm nhiễm vào khối u, củng cố mối liên hệ giữa chặn tạo mạch và phản ứng miễn dịch tế bào [4].

Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2013 trên thỏ thực hiện nối đại tràng phải lại cho thấy góc nhìn khác [7]. Thỏ uống viên sụn cá nhám 5 ngày trước và sau mổ ghi nhận áp lực nổ và nồng độ hydroxyproline ở mối nối cao hơn nhóm chứng (p < 0,05), kèm tăng mô liên kết và tăng sinh mạch tại vết mổ [7]. Mặc dù vết khâu đại tràng liền tốt hơn trong nghiên cứu này, tác động tân tạo mạch trái ngược giữa các mô hình cho thấy sụn cá có cơ chế can thiệp mạch máu vô cùng phức tạp [1, 5].

Bốn nhóm người cần cẩn trọng cao độ

Dựa trên cơ chế ức chế tạo mạch, cấu trúc vôi hóa và nguy cơ nhiễm độc sinh học, 4 nhóm người sau đây cần đặc biệt thận trọng:

  1. Người mới trải qua phẫu thuật hoặc có vết thương lớn Quá trình lành thương bình thường bắt buộc phải hình thành các mao mạch mới để cung cấp oxy và dưỡng chất tái tạo mô hạt. Tác tính ức chế tân mạch toàn thân đã được chứng minh qua mô hình uống sụn cá nhám liều 100 mg/kg [6] có thể làm chậm trễ tiến trình phục hồi vết mổ ngoài da, gây cản trở đóng mép vết thương hở. Dù thực nghiệm trên ruột thỏ ghi nhận tăng sinh mô liên kết [7], người bệnh trước và sau đại phẫu không nên tự ý dùng để tránh tương tác bất lợi.

  2. Trẻ em và thanh thiếu niên đang tuổi lớn Hệ xương và các cơ quan của trẻ nhỏ đòi hỏi mạng lưới mạch máu phải liên tục phát triển mở rộng để bồi đắp mô sụn tăng trưởng. Việc dung nạp các chất ức chế chọn lọc tế bào nội mô mạch máu [3] có thể can thiệp tiêu cực vào quá trình phát triển chiều cao và cấu trúc mạch non nớt của trẻ.

  3. Phụ nữ mang thai hoặc đang dự định thụ thai Sự phát triển của phôi thai và sự hình thành bánh nhau phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình tân tạo mạch máu với tốc độ cực cao. Uống chất ức chế bFGF như sụn cá nhám gây tác dụng toàn thân tương tự như thalidomide [6] - một chất nổi tiếng gây quái thai vì phá hủy mạch máu mầm chi. Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2014 kiểm nghiệm 16 sản phẩm sụn cá nhám thương phẩm phát hiện 15 mẫu dương tính với độc tố thần kinh cyanobacteria BMAA ở mức 86 đến 265 mcg/g trọng lượng khô, toàn bộ sản phẩm đều chứa thủy ngân (Hg) [8]. Đây là hai chất độc tích tụ sinh học có thể gây dị tật và tổn hại thần kinh thai nhi nghiêm trọng [8].

  4. Người có nguy cơ hoặc tiền sử tăng canxi huyết Nghiên cứu cấu trúc năm 2024 chỉ rõ mô đốt sống cá nhám chứa hàm lượng khoáng bioapatite dồi dào, các thể vôi hóa corpus calcarea chứa mật độ canxi phosphat rất đậm đặc [2]. Bệnh nhân suy thận, cường cận giáp hoặc người đang bổ sung canxi liều cao nếu uống thêm lượng lớn bột sụn cá dễ đối mặt tình trạng quá tải khoáng chất, dẫn tới rối loạn canxi huyết hoặc lắng đọng sỏi thận.

Hiểu lầm phổ biến: Sụn vi cá chữa khỏi ung thư

Một ngộ nhận dai dẳng nhiều thập kỷ là "cá nhám không bao giờ bị ung thư, uống sụn cá sẽ tiêu diệt khối u". Mặc dù sụn cá chứa các chất ức chế mạch nuôi khối u rắn [2, 6], việc hấp thu qua đường uống ở người đối diện rào cản sinh khả dụng rất lớn.

Hiện nay các nghiên cứu lâm sàng trên người vẫn còn rất hạn chế để xác định liều an toàn cũng như hiệu lực thực tế [6]. Bột sụn cá nhám chỉ đơn thuần là thực phẩm bổ sung cung cấp chondroitin, collagen và khoáng chất [3, 4]. Việc tự ý bỏ phác đồ điều trị y khoa để uống sụn vi cá liều cao là sai lầm nguy hiểm, tiềm ẩn ngộ độc thần kinh từ BMAA và kim loại nặng thâm nhập chuỗi thức ăn [8].

Hướng dẫn sử dụng và kiểm soát an toàn

Nếu thuộc nhóm đối tượng thông thường cần hỗ trợ sụn khớp, người dùng nên tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Kiểm tra nguồn gốc: Cá nhám là loài săn mồi đỉnh bảng sống lâu năm nên dễ tích tụ chất độc biển [8]. Ưu tiên sản phẩm có kiểm nghiệm định lượng thủy ngân và độc tố BMAA bằng các phương pháp chuẩn như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC-FD, UPLC-MS/MS) [8].
  • Thời điểm sử dụng: Uống trong hoặc ngay sau bữa ăn cùng nhiều nước để hạn chế kích ứng tiêu hóa và hỗ trợ hấp thu dinh dưỡng.
  • Không tự ý tăng liều: Dùng đúng liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất, tuyệt đối không lạm dụng bột thô kéo dài nhiều tháng liên tục.
  • Tạm dừng khi can thiệp y tế: Cần ngưng uống sụn cá nhám ít nhất 2 đến 3 tuần trước các ca phẫu thuật nha khoa hoặc phẫu thuật ngoại khoa để đảm bảo lưu lượng máu nuôi vết thương.

Sụn vi cá nhám chứa đựng tiềm năng hỗ trợ xương khớp phong phú nhờ collagen và chondroitin quý giá, nhưng bản chất ức chế tạo mạch và trữ lượng khoáng vôi dày đặc của nó đòi hỏi sự thận trọng lớn. Người có bệnh lý nền, suy giảm chức năng gan thận hoặc chuẩn bị mổ cần tham khảo trực tiếp bác sĩ chuyên khoa trước khi bắt đầu bất kỳ liệu trình bổ sung nào.