Thạch nhũ (canxi cacbonat tự nhiên từ đá vôi hang động) là vị thuốc cổ truyền thường được truyền tai giúp bồi bổ, làm lành tổn thương. Tuy nhiên, việc tự ý bổ sung nguồn khoáng chất đậm đặc này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hệ tiết niệu. Nhiều người chỉ quan tâm đến tác dụng bồi hoàn mà không biết rằng việc nạp hàm lượng lớn muối canxi vô cơ có thể gây quá tải chuyển hóa trầm trọng.

Câu trả lời ngắn gọn: người có tiền sử sỏi thận, người bệnh thận mạn tính, người bị nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát và người có rối loạn chuyển hóa canxi hoặc cận giáp tuyệt đối không nên tùy tiện dùng thạch nhũ. Dược liệu này chứa thành phần chính là canxi cacbonat (CaCO3), một hợp chất khó tan có khả năng làm tăng nồng độ canxi tự do, thúc đẩy hình thành tinh thể lắng đọng tại thận.

Cơ chế tạo sỏi và lắng đọng khoáng từ canxi cacbonat

Khi canxi cacbonat đi vào hệ tiêu hóa, một phần hấp thu vào máu làm tăng gánh nặng lọc qua cầu thận. Ở những người có cơ địa nhạy cảm hoặc độ lọc cầu thận suy giảm, lượng khoáng chất đào thải qua nước tiểu tăng vọt (hypercalciuria). Tình trạng này khiến canxi dễ dàng kết hợp với các gốc photphat, oxalat hoặc chính cacbonat để tạo thành sỏi cản trở dòng chảy nước tiểu.

Không chỉ lắng đọng tại thận, canxi dư thừa không được đưa hết vào khung xương sẽ trôi nổi trong hệ tuần hoàn. Lượng canxi dương tính này có xu hướng bám vào thành mạch hoặc các mô mềm ngoại vi. Hiện tượng vôi hóa mạch máu và mô mềm xảy ra âm thầm, làm giảm độ đàn hồi của động mạch và suy giảm dần chức năng bài tiết.

Bên cạnh đó, môi trường nước tiểu mang tính kiềm hoặc trung tính tạo điều kiện lý tưởng để các tinh thể canxi cacbonat kết tụ. Khi nồng độ khoáng trong nước tiểu vượt ngưỡng bão hòa hòa tan, các vi tinh thể nhanh chóng bám dính vào niêm mạc đài bể thận, hình thành khối sỏi lớn dần theo thời gian.

Nghiên cứu khoa học về sỏi canxi cacbonat và chuyển hóa khoáng

Sỏi hình thành từ canxi cacbonat dù hiếm gặp hơn sỏi canxi oxalat nhưng có đặc tính rất nguy hiểm và khó điều trị triệt để. Một báo cáo lâm sàng vào năm 2021 đã mô tả trường hợp nữ bệnh nhân 53 tuổi ăn thuần chay suốt 15 năm, xuất hiện các cơn đau hông trái và được chẩn đoán mắc sỏi san hô canxi cacbonat (calcite) lan rộng ở cả hai bên thận [1]. Trường hợp này đòi hỏi can thiệp ngoại khoa nhiều lần qua hàng tháng trời để làm sạch sỏi [1].

Các tác giả nghiên cứu năm 2021 nhận định sỏi canxi cacbonat thường chỉ chiếm trung bình khoảng 0,15% (hoặc dao động từ 0,01% đến 0,25%) trong tổng số các ca sỏi thận hàng năm [1]. Sự hình thành tinh thể calcite gắn liền với thói quen ăn uống kết hợp bổ sung vitamin bừa bãi, đặc biệt khi độ pH nước tiểu chuyển sang trung tính hoặc kiềm kết hợp hàm lượng magie cao [1]. Bệnh nhân trong báo cáo này cũng từng có tiền sử điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát [1].

Sỏi thận dạng canxi cacbonat là thách thức lớn đối với y khoa hiện đại do độ cứng chắc khó tán. Nghiên cứu công bố năm 1993 theo dõi điều trị sỏi san hô bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) trên 19 quả thận từ tháng 5/1989 đến tháng 11/1991 [2]. Bệnh nhân được điều trị đơn trị liệu bằng ESWL (9 ca), phối hợp lấy sỏi qua da PNL-ESWL (9 ca) hoặc mở thận dẫn lưu (1 ca) [2]. Kết quả theo dõi hình ảnh cho thấy tỷ lệ sạch sỏi hoàn toàn ở nhóm sỏi struvite đạt 100%, nhưng ở nhóm sỏi canxi cacbonat chỉ đạt vẻn vẹn 14,3% [2].

Không chỉ xuất hiện ở người, tình trạng tích tụ canxi cacbonat cũng được ghi nhận trên động vật hoang dã. Báo cáo năm 1982 về bệnh sỏi đường tiết niệu trên quần thể hươu đỏ (Cervus elaphus) phát hiện sỏi thận ở 8 trong tổng số 325 cặp thận được kiểm tra (tất cả 8 con đều là giống cái) [3]. Phân tích hóa học một viên sỏi thu thập được cho thấy thành phần cấu tạo chủ yếu là canxi cacbonat [3].

Thành phần cacbonat trong các loại sỏi canxi photphat cũng phản ánh rõ nguyên nhân bệnh lý đường niệu. Nghiên cứu năm 1999 trên 1.148 viên sỏi photphat chỉ ra rằng carbapatite là pha tinh thể phổ biến nhất, chiếm tới 74,0% [4]. Carbapatite liên quan mật thiết đến chứng tăng canxi niệu, hạ citrat niệu, cường cận giáp tiên phát, toan hóa ống thận và nhiễm trùng đường tiết niệu mạn tính [4]. Nghiên cứu xác định tỷ lệ cacbonat trong carbapatite trên 15% thường xuất hiện ở người nhiễm trùng tiết niệu do vi khuẩn phân hủy urê, còn tỷ lệ dưới 10% bắt nguồn từ rối loạn chuyển hóa [4].

Về bức tranh dịch tễ học nói chung, nghiên cứu năm 2019 tại Bệnh viện Đại học Akershus (Na Uy) phân tích 1.252 sỏi đường tiết niệu trên thu thập từ tháng 7/2014 đến tháng 12/2017 bằng quang phổ hồng ngoại [5]. Tỷ lệ nam:nữ mắc sỏi là 1,83:1 [5]. Tần suất thành phần sỏi chính bao gồm oxalat 71,3%, carbonate apatite 10,8%, sỏi axit uric 8,9%, struvite 5,7%, brushite 1,6% và cystine khoảng 1% [5].

4 nhóm đối tượng tuyệt đối không nên dùng thạch nhũ

Nhóm 1: Người có tiền sử sỏi đường tiết niệu. Bổ sung canxi dưới dạng khoáng chất hay thuốc bổ bị chống chỉ định chính thức đối với người có sỏi thận chứa canxi [6]. Dùng thạch nhũ với hàm lượng canxi cacbonat đậm đặc sẽ làm tăng đột ngột nồng độ canxi bài tiết qua thận, trực tiếp kích thích tinh thể bồi đắp vào các ổ lắng cặn cũ hoặc tạo sỏi mới [6].

Nhóm 2: Người mắc bệnh thận mạn tính (đặc biệt giai đoạn 3 và 4). Thận suy yếu không thể đào thải lượng khoáng chất dư thừa ra ngoài qua đường tiểu. Nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng năm 2015 trên 8 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 3-4 (độ lọc cầu thận trung bình 36 mL/phút) thực hiện dùng canxi cacbonat (chứa 1500 mg canxi/ngày) theo chu kỳ chéo 3 tuần [7]. Kết quả cho thấy canxi cacbonat gây ra tình trạng cân bằng canxi dương tính nhưng ít đưa vào xương mà lắng đọng chủ yếu ở các mô cơ thể, đưa ra cảnh báo nguy cơ khi dùng kéo dài [7].

Nhóm 3: Người thường xuyên bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Tình trạng nhiễm khuẩn mạn tính với vi khuẩn phân giải urê làm kiềm hóa nước tiểu mạnh mẽ, tạo cơ sở kết tụ canxi cacbonat và carbapatite [1], [4]. Bổ sung thạch nhũ trong giai đoạn viêm nhiễm sẽ tạo nguồn nguyên liệu dồi dào để vi khuẩn và khoáng chất cấu thành sỏi san hô phức tạp [1], [4].

Nhóm 4: Người mắc hội chứng cường cận giáp hoặc toan hóa ống thận. Các rối loạn chuyển hóa này vốn đã gây rò rỉ canxi ra nước tiểu (hypercalciuria) và làm mất cân bằng pH nội môi [4]. Nạp thêm các chế phẩm muối khoáng vô cơ như thạch nhũ sẽ đẩy nhanh tốc độ kết tinh sỏi photphat và cacbonat, làm tổn thương cấu trúc đài bể thận nhanh chóng [4].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng thạch nhũ

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "dược liệu tự nhiên từ đá hang động thì lành tính và giúp chắc khỏe xương". Thực chất, canxi vô cơ tự nhiên từ thạch nhũ cơ thể rất khó hấp thu chọn lọc. Khi vào cơ thể với lượng lớn, canxi không được hấp thu hết sẽ đào thải qua thận gây sỏi hoặc đọng lại ở thành mạch và mô liên kết [7].

Nhiều người cũng lầm tưởng rằng uống canxi dạng nào cũng như nhau và dùng thạch nhũ thay thế được cho chế độ ăn uống hàng ngày. Nghiên cứu chỉ ra rằng canxi từ thực phẩm tự nhiên trong bữa ăn giúp gắn kết oxalat và giảm nguy cơ sỏi thận tốt hơn, trong khi viên bổ sung canxi dạng muối lại là yếu tố nguy cơ nếu dùng bừa bãi [6]. Người bệnh sỏi canxi luôn được khuyến cáo ưu tiên bổ sung canxi qua thực phẩm thay vì dùng chế phẩm bổ sung canxi dạng khoáng chất [6].

Hướng dẫn áp dụng thực tế và chăm sóc sức khỏe thận

Để phòng ngừa sỏi thận và bảo vệ chức năng bài tiết, nguyên tắc quan trọng nhất là hạn chế tự ý đào đào, nghiền hoặc mua các loại thạch nhũ trôi nổi để sắc uống. Nếu cần bổ sung canxi cho cơ thể, hãy ưu tiên các nguồn dinh dưỡng an toàn từ thực phẩm tươi sống hàng ngày như rau xanh, cá nhỏ, đậu đỗ thay vì khoáng thạch tự nhiên [6].

Cần duy trì lượng nước uống đầy đủ trong ngày nhằm pha loãng các chất tan trong nước tiểu, hạ thấp nguy cơ tinh thể kết tủa. Khi sử dụng bất kỳ bài thuốc dân gian nào có thành phần từ khoáng thạch, người tiêu dùng bắt buộc phải tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng để kiểm tra chức năng lọc cầu thận trước khi dùng.

Thạch nhũ chứa hàm lượng canxi cacbonat cao không phải là vị thuốc bổ tùy tiện sử dụng cho mọi người. Nhận thức đúng về các chống chỉ định y khoa sẽ giúp bạn bảo vệ sức khỏe hệ tiết niệu, tránh gánh nặng phẫu thuật phức tạp do sỏi thận san hô gây ra.