Thực phẩm từ khoai nưa như bún nưa, thạch nưa hay bột nưa giảm cân đang trở thành trào lưu phổ biến trong thực đơn ăn kiêng của nhiều người. Nhờ lượng calo gần như bằng không cùng hàm lượng chất xơ dồi dào, các sản phẩm này thường được quảng cáo như một giải pháp lý tưởng giúp thanh lọc cơ thể và siết cân nhanh chóng. Tuy nhiên, việc lạm dụng thực phẩm từ khoai nưa không hoàn toàn lành tính cho tất cả mọi người.

Thực tế lâm sàng cho thấy, đối với người mắc chứng liệt dạ dày, tắc ruột, rối loạn chức năng nuốt, hội chứng ruột kích thích hoặc đang dùng thuốc điều trị, khoai nưa có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng [5, 7].

Cơ chế nở hút nước của glucomannan trong khoai nưa

Thành phần dinh dưỡng chính tạo nên tính chất đặc trưng của củ khoai nưa (Amorphophallus konjac) là chuỗi polysaccharide mang tên glucomannan [1]. Đây là một loại chất xơ hòa tan có nguồn gốc tự nhiên, sở hữu đặc tính giữ nước cực kỳ mạnh và tạo thành dung dịch có độ nhớt rất cao khi hòa tan trong môi trường lỏng [1].

Nhờ đặc tính hút nước mạnh mẽ, glucomannan có thể giãn nở nhanh chóng lên gấp nhiều lần kích thước ban đầu khi gặp độ ẩm trong đường tiêu hóa [1]. Khi đi vào cơ thể, chất xơ này trương nở tạo cảm giác no ảo, hỗ trợ làm giảm cảm giác thèm ăn [1]. Tuy nhiên, nếu tốc độ di chuyển của khối chất xơ này bị cản trở hoặc cơ thể không kịp cung cấp đủ lượng nước cần thiết, tính chất hút nước và tạo khối nhầy đặc quánh lại trở thành nguyên nhân hàng đầu gây bít tắc cơ học ở đường tiêu hóa [1].

Bằng chứng khoa học về tác dụng phụ và hiệu quả giảm cân

Mặc dù được dùng trong văn hóa ẩm thực phương Đông hơn 1.000 năm và phát triển ở phương Tây trong khoảng 20 năm qua, bằng chứng khoa học về hiệu quả giảm cân thực tế của glucomannan vẫn còn nhiều điểm tranh cãi [5, 6].

Một phân tích tổng hợp đăng tải năm 2014 đã xem xét dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đối chứng (RCT) trên nhóm người thừa cân hoặc béo phì [2]. Trong số 18 thử nghiệm được sàng lọc, 9 nghiên cứu đạt tiêu chuẩn đưa vào đánh giá [2]. Kết quả phân tích tổng hợp mô hình ngẫu nhiên từ 8 thử nghiệm chỉ ra sự khác biệt về mức giảm cân giữa nhóm bổ sung glucomannan và nhóm dùng giả dược là không có ý nghĩa thống kê, với chênh lệch trung bình chỉ -0,22 kg (khoảng tin cậy 95% từ -0,62 đến 0,19 kg) [2]. Bên cạnh hiệu quả giảm cân hạn chế, các thử nghiệm này ghi nhận nhiều biến cố bất lợi trên đường ruột như khó chịu ở bụng, tiêu chảy và táo bón [2].

Năm 2017, Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) công bố báo cáo đánh giá lại tính an toàn của gôm konjac (E 425 i) và glucomannan konjac (E 425 ii) như phụ gia thực phẩm [3]. Báo cáo ghi nhận từ nhiều nghiên cứu lâm sàng trên người rằng chất xơ này gây cảm giác khó chịu tiêu hóa như nhuận tràng, đầy hơi, ậm ạch dạ dày và chướng bụng [3]. Đáng chú ý, trong một nghiên cứu sử dụng liều 3 g glucomannan mỗi ngày (chia làm 3 lần, mỗi lần 1 g) kéo dài 12 tuần ở những người có cân nặng trung bình khoảng 90 kg (tương đương 33 mg/kg thể trọng/ngày), người tham gia đã gặp phải các tác dụng phụ đường tiêu hóa gồm tiêu chảy hoặc táo bón [3].

Về mặt an toàn thực phẩm, mức sử dụng tối đa của konjac (E 425) được quy định giới hạn trong các loại thực phẩm chế biến là 10 g/kg [3]. Báo cáo EFSA cũng chỉ ra rằng glucomannan konjac không được hấp thu nguyên vẹn qua niêm mạc mà bị lên men mạnh mẽ bởi hệ vi sinh vật đường ruột [3]. Các thử nghiệm độc tính trên động vật trong 90 ngày ở chuột và chó không phát hiện biến cố bất lợi liên quan, với mức không gây tác dụng phụ quan sát được (NOEL) ở chuột là 1.250 mg glucomannan/kg thể trọng [3].

Nhóm 1: Người có bất thường giải phẫu và rối loạn nuốt

Đặc tính trương nở nhanh của glucomannan tiềm ẩn rủi ro lớn đối với người có cấu trúc thực quản bất thường, người cao tuổi hoặc người có phản xạ nuốt kém [1]. Một báo cáo ca bệnh năm 2007 đã mô tả trường hợp một phụ nữ 37 tuổi bị tắc nghẽn thực quản muộn sau khi dùng sản phẩm hỗ trợ giảm cân không kê đơn chứa glucomannan [1].

Chất xơ này khi gặp dịch tiêu hóa đã hình thành một khối bã thuốc hút nước (pharmacobezoar) nằm kẹt cứng tại thực quản [1]. Bệnh nhân may mắn tống được khối bã ra ngoài nhờ nôn mạnh ngay trước thời điểm tiến hành nội soi đường tiêu hóa trên [1]. Quá trình nội soi sau đó phát hiện bệnh nhân có màng ngăn thực quản (esophageal web) bẩm sinh mà trước đó không hay biết [1]. Trường hợp này là cảnh báo lâm sàng rõ ràng về mối nguy gây tắc nghẽn thực quản của glucomannan đối với bất kỳ ai có bệnh lý hay bất thường ở đường tiêu hóa trên [1].

Nhóm 2: Người bị liệt dạ dày và hẹp đường tiêu hóa

Liệt dạ dày là tình trạng suy giảm nhu động khiến thức ăn lưu lại trong dạ dày lâu hơn bình thường, hay gặp ở người đái tháo đường lâu năm hoặc sau phẫu thuật can thiệp tiêu hóa. Khoai nưa chứa hàm lượng sợi xơ dính dẻo cực lớn, khi đi vào dạ dày kém vận động sẽ không được nhào trộn và tống xuất kịp thời [1].

Dịch ứ đọng biến khối bột nưa thành hỗn dịch có độ nhớt cực cao [1]. Hiện tượng này làm tăng gánh nặng tống xuất, dẫn đến các triệu chứng buồn nôn dữ dội, đau bụng và cảm giác đầy trướng kéo dài [5, 7].

Nhóm 3: Người có tiền sử bán tắc hoặc tắc ruột

Khả năng gây tắc nghẽn đường tiêu hóa của chất xơ konjac đã được ghi nhận trong các y văn khoa học [1]. Ở những người từng phẫu thuật ổ bụng tạo dây dính, có sẹo hẹp ruột hoặc viêm ruột làm hẹp lòng ruột, khối glucomannan hút nước phình to sẽ gặp trở ngại lớn khi di chuyển qua các đoạn hẹp [1].

Thay vì hỗ trợ nhuận tràng, khối xơ đóng thành khối đặc gây tắc nghẽn cơ học hoàn toàn, khiến bệnh nhân đau quặn bụng, nôn mửa và có thể phải đối mặt với các can thiệp cấp cứu y tế nguy hiểm [1].

Nhóm 4: Người mắc hội chứng ruột kích thích

Dữ liệu khoa học cho thấy glucomannan hầu như không bị phân giải ở ruột non mà đi thẳng xuống đại tràng để chịu sự lên men của hệ vi sinh đường ruột [3]. Quá trình lên men vi khuẩn này tạo ra lượng lớn khí sinh học trong lòng ruột [3].

Nghiên cứu lâm sàng đã xác nhận cảm giác đầy hơi, chướng bụng, ậm ạch dạ dày xảy ra thường xuyên khi bổ sung chất xơ này [3]. Đối với người mắc hội chứng ruột kích thích (IBS) vốn có ngưỡng nhạy cảm nội tạng cao, lượng khí ứ đọng từ quá trình lên men và tình trạng co thắt đại tràng sẽ kích hoạt cơn đau bụng dữ dội, đi kèm các đợt bùng phát tiêu chảy hoặc táo bón xen kẽ [6, 7].

Nhóm 5: Người đang uống thuốc điều trị mạn tính

Một khía cạnh thường bị bỏ qua khi lạm dụng thực phẩm giảm cân từ khoai nưa là nguy cơ tương tác dược lý. Độ nhớt cực cao và tính chất bao bọc của gel glucomannan có thể làm biến đổi sinh khả dụng và khả năng hấp thu của các loại thuốc uống đồng thời [1].

Khi dùng chung với bữa ăn chứa nhiều khoai nưa hoặc uống viên xơ nưa sát giờ uống thuốc, các hoạt chất điều trị có thể bị giữ lại bên trong khối gel nhầy hoặc bị cản trở tiếp xúc với niêm mạc ruột non [1]. Tình trạng này làm giảm nồng độ thuốc hấp thu vào máu, đe dọa trực tiếp đến hiệu quả điều trị của các loại thuốc thiết yếu như thuốc tim mạch hay nội tiết [1].

Áp dụng khoai nưa an toàn và đúng cách trong bữa ăn

Dù tiềm ẩn tác dụng phụ cơ học và tiêu hóa đối với các nhóm bệnh nhạy cảm, khoai nưa chế biến thông thường vẫn là nguồn thực phẩm an toàn cho người khỏe mạnh nếu tuân thủ các nguyên tắc thận trọng [3]. Tiêu chuẩn an toàn châu Âu cho phép hàm lượng tối đa của chất phụ gia konjac trong thực phẩm ở mức 10 g/kg [3].

Khi chế biến các món bún, mì hay thạch nưa, người tiêu dùng cần nhai kỹ từng phần nhỏ để giảm tải kích thước khối thức ăn đi qua thực quản. Tuyệt đối không tiêu thụ các loại bột xơ nưa khô mà không hòa tan kỹ, và bắt buộc phải uống nhiều nước kèm theo trong suốt bữa ăn để khối chất xơ có đủ dung môi trương nở trước khi đi sâu vào lòng ruột. Khoảng cách an toàn giữa việc ăn khoai nưa và thời điểm dùng các loại thuốc điều trị tối thiểu là 2 đến 3 giờ nhằm tránh ảnh hưởng đến sự hấp thu của dược chất [1].

Khoai nưa chỉ nên được nhìn nhận như một món ăn đổi vị giúp hỗ trợ kiểm soát khẩu phần chứ không phải thần dược giảm mỡ hay giải pháp điều trị thay thế y khoa [2]. Trước khi quyết định bổ sung bột xơ nưa liều cao hoặc thay đổi chế độ ăn kéo dài, người có tiền sử bệnh tiêu hóa hay đang dùng thuốc nền mạn tính cần chủ động tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ.