Cây biến hoá (thuộc chi Asarum, thường gọi tế tân hoặc biến hoá tùy vùng) dùng nhiều trong bài thuốc dân gian. Nhiều người tự ý sắc uống trị đau nhức, cảm mạo mà không biết dược liệu này tiềm ẩn nguy cơ tổn thương nội tạng nghiêm trọng.

Trả lời thẳng: người có bệnh thận, phụ nữ mang thai, trẻ em và người phối hợp thuốc tây chuyển hóa qua thận tuyệt đối không tự ý dùng. Độc tính thận từ chi thảo dược này gây suy giảm chức năng bài tiết cấp tính, nguy cơ tử vong hoặc di chứng không hồi phục.

Cơ chế gây độc thận và nguy cơ tích lũy

Thực vật chi Asarum chứa các hoạt chất có khả năng hủy hoại trực tiếp tế bào ống thận và cầu thận. Khi vào cơ thể qua đường uống hoặc tiêm truyền, độc chất bài tiết qua hệ tiết niệu, gây co thắt mạch thận, ứ trệ tuần hoàn vi mạch.

Quá trình này làm tổn thương màng lọc cầu thận, gây rò rỉ hồng cầu, protein vào nước tiểu. Đồng thời, độc chất phá vỡ cân bằng chất giãn mạch và co mạch nội mô, dẫn tới thiếu máu cục bộ mô thận, đẩy nhanh tiến trình hoại tử tế bào.

Hệ bài tiết suy yếu làm tốc độ lọc giảm sút. Độc chất không đào thải kịp sẽ tích lũy trong máu, tiếp tục phá hủy các cơ quan khác gồm gan và hệ thần kinh trung ương.

Bằng chứng khoa học về độc tính của chi biến hoá

Nghiên cứu thực nghiệm năm 2004 kiểm tra độc tính thận của biến hoá lá đơn (Asarum himalaicum) trên thỏ [1]. Thiết kế nghiên cứu chia thỏ thành ba nhóm can thiệp: nhóm dùng Asarum himalaicum, nhóm dùng Asarum heterotropoides và nhóm đối chứng dùng nước muối sinh lý qua đường tĩnh mạch [1].

Các chỉ số theo dõi gồm: thể tích nước tiểu mỗi phút, pH nước tiểu, glucose niệu, protein niệu, hồng cầu niệu, ure máu (BUN), creatinin huyết thanh (SCr), thromboxane B2 (TXB2), 6-keto-PGF1alpha, tỷ lệ TXB2/6-keto-PGF1alpha, endothelin, độ thanh thải acid p-aminohippuric và tỷ lệ bài tiết phenolsulfonphthalein [1].

Kết quả cho thấy ở liều nhất định, Asarum himalaicum gây suy thận cấp trên thỏ [1]. Các chỉ số xét nghiệm ở nhóm dùng Asarum himalaicum biến đổi tiêu cực rõ rệt so với nhóm dùng nước muối sinh lý [1].

So với Asarum heterotropoides, các chỉ số tổn thương ở nhóm dùng Asarum himalaicum thấp hơn nhưng không có ý nghĩa thống kê, ngoại trừ nồng độ creatinin huyết thanh (SCr) [1]. Kết luận khẳng định Asarum himalaicum gây tổn hại cấu trúc và chức năng thận rõ rệt, dù mức độc tính thận thấp hơn Asarum heterotropoides [1].

Giới hạn: thử nghiệm thực hiện trên động vật qua đường tiêm tĩnh mạch [1]. Cần thận trọng khi ngoại suy liều lượng sang đường uống ở người, song nguy cơ nhiễm độc tế bào thận là thực tế đã chứng minh.

Bốn nhóm đối tượng cần tránh dùng

Nhóm 1: Người suy giảm chức năng thận, viêm thận mạn. Dược chất từ thảo dược chi Asarum trực tiếp làm giảm độ thanh thải, tăng BUN, tăng SCr và gây suy thận cấp [1]. Mô thận vốn đã tổn thương không thể chịu thêm độc tính, dễ dẫn đến mất chức năng lọc vĩnh viễn.

Nhóm 2: Phụ nữ mang thai và cho con bú. Thay đổi huyết động học thai kỳ làm tăng gánh nặng lọc qua cầu thận. Độc chất tích tụ dễ vượt hàng rào nhau thai gây ngộ độc thai nhi hoặc bài tiết qua sữa mẹ, gây suy gan thận sớm ở trẻ sơ sinh.

Nhóm 3: Trẻ em dưới 12 tuổi. Cơ quan chuyển hóa gan và hệ lọc thận của trẻ chưa hoàn thiện. Diện tích bề mặt lọc nhỏ khiến độc chất tích lũy nhanh hơn nhiều lần so với người trưởng thành, đẩy trẻ vào cơn ngộ độc cấp tính.

Nhóm 4: Người đang dùng các thuốc gây độc thận hoặc tương tác bài tiết. Dùng chung dược liệu độc thận với các thuốc đào thải qua đường tiểu làm tăng vọt nguy cơ ngộ độc thứ phát. Tình trạng này đe dọa trực tiếp tính mạng nếu không kiểm soát liều lượng chặt chẽ.

Cảnh giác tương tác thuốc và bệnh nền kết hợp

Bệnh nhân có bệnh nền mạn tính cần đặc biệt cẩn trọng với các chất ảnh hưởng huyết động học của thận. Ví dụ, điều trị lithium phối hợp với hạ natri máu, thuốc lợi tiểu thiazide hoặc suy thận mạn làm tăng mạnh nguy cơ ngộ độc thuốc, cần giảm liều và theo dõi sát sao [2].

Tương tự, các nhóm thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và ức chế chọn lọc COX-2 (coxib) đều ảnh hưởng tương đương lên chức năng thận nếu dùng liều tương đương [3]. Nguy cơ biến chứng thận tăng cao ở người cao tuổi có suy giảm mức lọc cầu thận theo tuổi, người giảm thể tích tuần hoàn đang uống thuốc lợi tiểu quai, người suy tim sung huyết, xơ gan hoặc hội chứng thận hư [3].

Ngoài ra, nguy cơ tăng huyết áp tăng rõ rệt khi dùng đồng thời NSAID với thuốc hạ áp trên nhóm bệnh nhân suy tim sung huyết, bệnh gan, bệnh thận, hoặc người đang dùng thuốc ức chế men chuyển, thuốc lợi tiểu [3]. Tự ý uống thêm thảo dược nhóm Asarum trên nền bệnh này sẽ nhân đôi nguy cơ suy thận cấp và cơn tăng huyết áp kịch phát [1, 3].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng cây thuốc Nam

Nhiều người mặc định cây cỏ tự nhiên lành tính, không độc, uống thay nước hàng ngày để thanh lọc cơ thể. Thực tế, nhiều thảo dược chứa ancaloit hoặc dẫn xuất acid hữu cơ gây hoại tử tế bào gan, suy ống thận cấp tính [1].

Một sai lầm khác là tự tăng liều sắc thuốc khi thấy bệnh lâu khỏi. Độc tính của biến hoá phụ thuộc liều; dùng liều cao đột ngột phá hủy màng lọc thận chỉ sau thời gian ngắn tiếp xúc [1]. Việc nhầm lẫn giữa các loài trong cùng chi Asarum cũng khiến người dùng chịu độc tính thận cao hơn dự tính [1].

Thận trọng và hướng xử lý an toàn

Không tự ý hái, mua rễ, lá cây biến hoá về sắc uống khi chưa có chỉ định và kiểm soát của thầy thuốc y học cổ truyền được cấp phép. Người có tiền sử bệnh thận, tim mạch, huyết áp phải báo rõ tiền sử dùng thuốc tây trước khi kê đơn đông y [2, 3].

Nếu vô tình uống phải thảo dược lạ và xuất hiện triệu chứng tiểu ít, nước tiểu đỏ, phù mặt, khó thở, buồn nôn, cần đến ngay cơ sở y tế có khoa hồi sức cấp cứu hoặc thận nhân tạo. Mang theo mẫu cây hoặc bã thuốc để bác sĩ xét nghiệm độc chất, cấp cứu kịp thời.

Cây biến hoá là vị thuốc có độc tính thận rõ rệt đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm khoa học [1]. Người bệnh không tự làm bác sĩ, không dùng theo truyền miệng để tránh nguy cơ suy thận không hồi phục.