Nhiều người khi nhận kết quả tăng huyết áp liền vội vàng loại bỏ hoàn toàn muối ra khỏi bữa ăn hằng ngày. Thói quen kiêng khem khắc nghiệt này bắt nguồn từ tâm lý lo ngại natri làm tăng áp lực dòng máu [1]. Tuy nhiên, liệu cắt giảm gia vị đến mức tối đa có thực sự đem lại hiệu quả an toàn cho sức khỏe hay không?
Câu trả lời dưới góc nhìn khoa học là không nên cắt giảm natri hoàn toàn. Việc giảm lượng muối ăn vào ở mức độ vừa phải là một biện pháp hỗ trợ kiểm soát huyết áp hiệu quả [2, 5]. Thế nhưng, kiêng muối quá mức sẽ kích hoạt phản ứng bù trừ của hệ thống nội tiết, gây hại cho tim mạch và rối loạn chức năng của cơ thể [1, 7].
Cơ chế bù trừ: Phản ứng ngược từ hệ renin-angiotensin
Cơ thể con người sở hữu những hệ thống tự cân bằng tinh vi để bảo vệ thể tích dịch tuần hoàn. Natri là ion điện giải then chốt giữ nước trong lòng mạch máu, giúp duy trì áp lực tưới máu nuôi các mô sống. Khi lượng natri nạp vào giảm quá sâu, huyết áp có nguy cơ sụt giảm đột ngột ngoài tầm kiểm soát [1, 2].
Để ngăn chặn hiện tượng tụt huyết áp, thận lập tức kích hoạt phản ứng bảo vệ thông qua trục renin-angiotensin-aldosterone [1, 7]. Enzym renin được giải phóng vào tuần hoàn máu nhằm chuyển hóa thành angiotensin II, một chất gây co thắt lòng mạch mạnh mẽ [2]. Khi mạch máu co lại, huyết áp bị giữ ở mức cao, làm mất đi mục tiêu hạ áp ban đầu của người ăn kiêng [1, 2].
Hơn nữa, angiotensin II kích thích vỏ thượng thận tiết ra hormone aldosterone [3]. Aldosterone chỉ đạo thận tăng cường tái hấp thu muối và nước, đồng thời đào thải kali ra ngoài qua đường nước tiểu [4, 7]. Hoạt động gia tăng liên tục của trục nội tiết này làm tim phải chịu áp lực co bóp lớn hơn và tiềm ẩn nguy cơ nhồi máu cơ tim [3].
Bằng chứng nghiên cứu về mức độ giới hạn natri
Mối liên hệ giữa việc cắt giảm natri và hệ renin-angiotensin đã được giới khoa học làm rõ qua nhiều công trình thực nghiệm. Việc kiêng natri nghiêm ngặt không tạo ra hiệu quả tỷ lệ thuận tuyến tính như nhiều người vẫn nghĩ [1, 7].
Trong một nghiên cứu năm 1989 trên chuột tăng huyết áp tự phát (SHR) và chuột đối chứng Wistar-Kyoto (WKY), các tác giả đã so sánh các chế độ ăn natri khác nhau từ khi sinh đến 6 hoặc 16 tuần tuổi [4]. Các nhóm ăn gồm nhóm đối chứng (101 micromol Na+/g thức ăn), nhóm giảm vừa phải (26 micromol/g) và hai nhóm kiêng nghiêm ngặt (17 hoặc 9 micromol/g) [4]. Kết quả cho thấy nhóm kiêng nghiêm ngặt tuy làm chậm phát triển huyết áp nhưng lại kích hoạt mạnh mẽ hoạt tính renin huyết tương (PRA) và làm tăng sự phụ thuộc của huyết áp vào hệ renin-angiotensin [4]. Ngược lại, mức hạn chế vừa phải (26 micromol/g) không làm bùng phát hoạt tính renin huyết tương hay đáp ứng huyết áp với thuốc ức chế men chuyển captopril [4].
Một thử nghiệm lâm sàng năm 1981 trên 48 người bệnh tăng huyết áp cho thấy giá trị của việc hạn chế natri hợp lý [5]. Ở những người tăng huyết áp nhẹ (huyết áp tâm trương 90-105 mmHg), việc giảm natri giúp 75% số người bệnh đưa được huyết áp tâm trương về mức dưới 90 mmHg [5]. Đối với người tăng huyết áp nặng hơn (huyết áp tâm trương trên 105 mmHg), giảm natri đem lại hiệu quả hạ áp tương đương với việc dùng thuốc lợi tiểu chlorothiazide liều 500 mg mỗi ngày [5].
Nghiên cứu công bố năm 1987 trên người chỉ ra rằng hạn chế natri ngắn hạn ở người có huyết áp bình thường hầu như không làm hạ áp hoặc giảm rất ít [2]. Tác giả chỉ ra việc thiếu đáp ứng này bắt nguồn từ sự gia tăng phản ứng bù trừ của renin và angiotensin II [2]. Ở người tăng huyết áp nguyên phát, hệ thống này bị ức chế sẵn nên khi giảm natri, mức tăng renin và angiotensin II thấp hơn so với người bình thường, giúp huyết áp giảm tốt hơn [2]. Nghiên cứu cũng kết luận việc kết hợp giảm muối vừa phải cùng thuốc ức chế men chuyển mang lại hiệu quả hạ áp vượt trội hơn can thiệp đơn độc [2].
Nguy cơ tim mạch từ việc kích hoạt aldosterone kéo dài
Các phân tích tổng hợp đăng tải năm 2016 đã làm rõ thêm nguy cơ từ việc giảm natri quá mức [3]. Ở những người tăng huyết áp từ nhẹ đến trung bình, chỉ số renin-natri cao trước và sau can thiệp điều trị là yếu tố độc lập liên quan đến sự gia tăng nguy cơ biến cố nhồi máu cơ tim [3].
Khi người bệnh thực hiện chế độ kiêng natri cấp tính và nghiêm ngặt trong 5 ngày (mức giảm trung bình 293 mmol/24 giờ ở người tăng huyết áp và 266 mmol/24 giờ ở người bình thường), hoạt tính renin huyết tương và nồng độ aldosterone đều vọt tăng [3]. Trái lại, khi thực hiện hạn chế muối ở mức vừa phải trong thời gian dài trên 4 tuần (giảm lượng natri bài tiết qua nước tiểu 24 giờ là 78 mmol/24 giờ ở người tăng huyết áp và 74 mmol/24 giờ ở người bình thường), nồng độ renin và aldosterone chỉ tăng nhẹ [3].
Tuy vậy, một phân tích tổng hợp trên cả người huyết áp bình thường và người tăng huyết áp khẳng định: việc kiêng muối làm tăng đáng kể renin và aldosterone tỷ lệ thuận với mức giảm natri nạp vào [3]. Ngay cả trong các can thiệp vừa phải kéo dài trên 4 tuần (mức giảm natri dưới 100 mmol/24 giờ), sự gia tăng nội tiết này vẫn xuất hiện [3]. Khi lượng nạp natri xuống dưới 120 mmol/24 giờ kéo dài trên 4 tuần, nồng độ aldosterone và renin huyết tương tăng lên rất rõ rệt [3]. Hiện tượng kích hoạt tối đa hệ renin-angiotensin-aldosterone này tạo ra gánh nặng lớn lên cơ quan tim mạch [3]. Nghiên cứu cắt ngang trên bệnh nhân đái tháo đường týp 1 và týp 2 cũng xác nhận lượng bài tiết natri trong nước tiểu 24 giờ càng thấp thì nồng độ aldosterone trong huyết thanh càng cao [3].
Một nghiên cứu năm 1985 khảo sát tuổi tác và đáp ứng giảm natri ở chuột tăng huyết áp (SHR) ở các thời điểm 2, 7 và 10 tuần tuổi cho đến 16 tuần tuổi [6]. Chế độ ăn kiêng natri ngặt nghèo (9 và 17 micromol/g so với đối chứng 101 micromol/g) bắt đầu lúc 2 tuần tuổi giúp ngăn chặn hoặc giảm nhẹ tăng huyết áp nhưng lại làm chậm lớn và ức chế tăng trưởng nghiêm trọng [6]. Khi bắt đầu trễ hơn ở mốc 10 tuần tuổi, việc hạn chế natri không còn tác động hạ huyết áp dù tốc độ tăng trưởng của chuột vẫn bị suy giảm [6].
Nghiên cứu tiếp nối năm 1987 trên chuột cũng chứng minh sự cực đoan này: mức ăn cực thấp (9 micromol/g từ khi sinh hoặc từ 4 tuần tuổi đến 16 tuần tuổi) làm chậm lớn nặng nề và giảm hoạt động thần kinh giao cảm qua đáp ứng phong bế hạch [7]. Nhưng chỉ cần một lượng natri nhỏ được bổ sung lại ở tuần thứ 10 (tăng lên 26 hoặc 101 micromol/g), huyết áp và hoạt động giao cảm lập tức vọt tăng trở lại kèm hiện tượng tăng nhanh kích thước cơ thể [7]. Điều đó cho thấy chế độ kiêng quá mức làm xáo trộn chức năng sinh lý cơ bản và không phải là giải pháp bền vững [7].
Năm 1999, các hiệp hội y tế tại Canada đưa ra khuyến cáo dựa trên bằng chứng về việc hạn chế muối ăn ở người trưởng thành [8]. Báo cáo ghi nhận ở người có huyết áp bình thường, cần sự thay đổi natri rất lớn mới tạo ra mức giảm huyết áp khiêm tốn (giảm 100 mmol natri mỗi ngày chỉ giúp giảm 1 mmHg huyết áp tâm thu) [8]. Tác dụng hạ áp từ việc cắt giảm muối thể hiện rõ rệt nhất ở người bệnh tăng huyết áp từ 44 tuổi trở lên [8].
Hiểu lầm phổ biến: Kiêng càng nhiều, huyết áp càng ổn
Sai lầm lớn nhất của nhiều người là đánh đồng giảm muối với việc loại bỏ hoàn toàn gia vị khỏi bếp ăn gia đình. Việc chuyển từ chế độ ăn uống thông thường sang luộc hấp không nêm nếm thường khiến người bệnh mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon miệng và suy giảm thể lực.
Việc thiếu hụt natri quá mức làm đảo lộn cân bằng nước và áp lực thẩm thấu nội mô tế bào [1, 7]. Hơn nữa, phản xạ kích thích hệ renin-angiotensin khiến lòng mạch co thắt thường xuyên [1, 2]. Điều này tạo áp lực bù trừ khiến việc hạ áp bằng lối sống không đem lại kết quả như kỳ vọng, thậm chí làm tăng các chỉ dấu rủi ro tim mạch [3].
Nhiều người cũng nghĩ rằng huyết áp hạ ngay lập tức sau vài ngày cắt sạch muối [3]. Nhưng thực tế, việc cắt giảm đột ngột trong thời gian ngắn chỉ làm bùng phát hoạt tính renin huyết tương và aldosterone cấp tính, khiến hệ mạch máu chịu thêm căng thẳng [3].
Nhóm đối tượng cần thận trọng
Dữ liệu khuyến cáo nhấn mạnh việc điều chỉnh giảm muối không áp dụng một cách cào bằng cho mọi đối tượng. Hướng dẫn của Canada năm 1999 ghi rõ không áp dụng các khuyến cáo giảm muối ăn thông thường cho phụ nữ mang thai [8]. Việc kiêng cữ natri thiếu kiểm soát trong thai kỳ có thể ảnh hưởng đến thể tích tuần hoàn và sự phát triển của thai nhi.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật non cho thấy việc giới hạn natri quá mức làm chậm quá trình tăng trưởng bình thường của thể chất một cách nghiêm trọng [3, 6]. Do đó, phụ huynh không được tự ý cắt giảm hoàn toàn muối trong khẩu phần ăn của trẻ nhỏ.
Đối với người mắc bệnh đái tháo đường týp 1 và týp 2, việc suy giảm quá mức nồng độ natri bài tiết qua nước tiểu có liên quan mật thiết đến việc gia tăng aldosterone huyết thanh [3]. Nhóm đối tượng này, cùng với người cao tuổi, cần tham khảo ý kiến chuyên gia y tế trước khi thực hiện các chế độ ăn kiêng hà khắc nhằm tránh nguy cơ biến chứng tim mạch và rối loạn điện giải [7, 8].
Áp dụng chế độ ăn giảm natri đúng cách
Để bảo vệ thành mạch một cách khoa học, người bệnh không cần cắt muối hoàn toàn mà nên thực hiện giảm muối ở mức độ vừa phải [1, 2, 7]. Việc giảm nhẹ nhàng giúp hệ renin-angiotensin không bị kích hoạt quá mức, vừa duy trì được hiệu quả hạ huyết áp tâm trương an toàn [2, 5, 7].
Trong một nghiên cứu năm 2015 về chương trình can thiệp dinh dưỡng cho bệnh nhân tăng huyết áp có mức natri cao (từ 100 mmol/ngày trở lên), can thiệp không chỉ dừng ở lời khuyên mà cần hướng dẫn chi tiết theo dõi qua natri và kali niệu 24 giờ [1]. Người bệnh nên chú ý cắt giảm các nguồn thực phẩm chế biến sẵn, đồ hộp, thức ăn nhanh vốn chứa lượng muối ẩn rất lớn [1].
Thay vì kiêng tuyệt đối gia vị, người nội trợ có thể dùng lượng muối vừa phải trong nấu nướng gia đình và phối hợp cùng chế độ dinh dưỡng giàu rau củ quả tự nhiên [1]. Với những trường hợp đang dùng thuốc hạ áp, đặc biệt là nhóm ức chế men chuyển, việc kết hợp giảm muối vừa phải sẽ hỗ trợ thuốc phát huy tối đa công năng kiểm soát chỉ số áp lực mạch máu [1, 2].
Kiểm soát huyết áp là hành trình dài đòi hỏi tính kiên trì và cân bằng khoa học. Loại bỏ hoàn toàn muối ăn không phải là chìa khóa vàng, mà có thể trở thành con dao hai lưỡi kích hoạt các phản ứng co mạch nguy hiểm [1, 2, 7]. Một chế độ ăn giảm bớt vị mặn ở mức vừa phải, duy trì lối sống lành mạnh và tuân thủ tư vấn của bác sĩ chuyên khoa là giải pháp an toàn nhất để bảo vệ trái tim [2, 5, 8].
