Chế độ ăn Địa Trung Hải từ lâu đã được xem là hình mẫu dinh dưỡng lý tưởng cho sức khỏe tim mạch và kiểm soát cân nặng. Nhiều người vội vàng chuyển đổi toàn bộ thực đơn sang nhiều rau xanh, hạt, đậu và ngũ cốc nguyên hạt nhằm thanh lọc cơ thể và cải thiện sức khỏe tổng thể. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên bản lối ăn này không phải lúc nào cũng an toàn cho tất cả mọi người.
Người có tổn thương thận, người cần kiểm soát vi chất hay đang mang bệnh nền chuyển hóa cần thận trọng đặc biệt trước khi thực hiện. Khi lượng thực vật dồi dào nạp vào cơ thể không qua tính toán cá nhân hóa, những thành phần vốn có lợi có thể chuyển thành gánh nặng chuyển hóa.
Cơ chế tác động: Lợi ích chuyển hóa và rủi ro quá tải chất khoáng
Chế độ ăn Địa Trung Hải truyền thống tập trung chủ yếu vào thực phẩm nguồn gốc thực vật, cá béo, ngũ cốc nguyên cám và dầu ô liu [2, 7]. Các loại thực vật mang lại lượng lớn chất kiềm tự nhiên, chất xơ và axit béo chưa bão hòa thay vì mỡ động vật [1]. Nguồn kiềm tự nhiên này hỗ trợ cơ thể cân bằng axit, góp phần giảm bớt tình trạng toan chuyển hóa thường gặp ở những người suy giảm chức năng đào thải [1, 2].
Tuy nhiên, nguồn thực vật phong phú gồm rau lá, các loại hạt và đậu lại đi kèm hàm lượng chất khoáng tự nhiên rất cao, điển hình là kali, phốt pho cùng lượng đạm thực vật tích lũy [1]. Ở người bình thường, thận khỏe mạnh sẽ nhanh chóng lọc và bài tiết lượng chất khoáng dư thừa này qua nước tiểu mà không gây biến đổi áp lực thẩm thấu hay nhịp sinh học [2]. Trái lại, khi màng lọc cầu thận bị tổn thương hoặc suy giảm diện tích tiếp xúc, thận không còn khả năng đào thải kịp thời các chất khoáng và sản phẩm chuyển hóa từ đạm [2, 7].
Hệ quả là lượng kali hoặc phốt pho tích tụ trong máu tăng cao, tiềm ẩn nguy cơ rối loạn nhịp tim hoặc biến chứng xương khớp. Vì vậy, việc áp dụng chế độ ăn nhiều thực vật đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt về chỉ số dinh dưỡng đối với các trường hợp có nguy cơ [2, 5].
Bệnh thận mạn tính: Cần điều chỉnh công thức cá nhân hóa
Bệnh thận mạn là tình trạng suy giảm chức năng lọc máu tiến triển, ảnh hưởng khoảng 9,1% đến 10% dân số toàn cầu [2, 3]. Căn bệnh mạn tính này có xu hướng gia tăng và trở thành gánh nặng lớn cho y tế dự phòng [2, 3].
Đối với người đã mắc bệnh thận tiến triển, việc áp dụng chế độ Địa Trung Hải nguyên bản cần được đánh giá chặt chẽ thay vì làm theo khuyến cáo chung cho người bình thường [2, 5]. Một nghiên cứu can thiệp chéo năm 2024 tại Hàn Quốc đã tiến hành đánh giá thực đơn Địa Trung Hải tối ưu (MEDi-POB) trên 50 bệnh nhân mắc bệnh thận mạn giai đoạn 3–4, với 46 người hoàn thành trọn vẹn 12 tuần thử nghiệm [2]. Bệnh nhân được cung cấp bữa ăn tận nhà 2 lần/ngày, 5 ngày/tuần trong 4 tuần can thiệp, xen kẽ giai đoạn nghỉ 4 tuần và thực đơn thông thường [2]. Kết quả cho thấy chế độ này giúp tăng hấp thu chất béo (p = 0,001), chất xơ (p < 0,001) và niacin (p = 0,007), đồng thời giảm tiêu thụ natri (p = 0,032) và đồng (p = 0,037) [2]. Lượng CO2 toàn phần tăng nhẹ (p = 0,043), cho thấy hỗ trợ kiểm soát toan chuyển hóa mà chức năng thận vẫn duy trì ổn định [2].
Mặc dù lượng kali dung nạp qua ăn uống trong nghiên cứu này tăng nhẹ ở ngưỡng tiệm cận ý nghĩa thống kê (p = 0,053), nồng độ kali trong huyết thanh (p = 0.883) và kali trong nước tiểu (p = 0,087) không bị biến động có ý nghĩa [2]. Tuy vậy, thử nghiệm này chỉ thực hiện trong thời gian ngắn và có sự cân đối thành phần nghiêm ngặt từ trước [2]. Một tổng quan năm 2023 nhấn mạnh rằng dù chế độ ăn Địa Trung Hải tốt cho phòng ngừa ban đầu, nhưng không có bằng chứng bảo vệ thận rõ ràng trên bệnh nhân đã suy thận nếu không có sự hiệu chỉnh [1].
Chính vì lý do đó, mô hình dinh dưỡng Địa Trung Hải cho thận (MedRen) đã ra đời [1]. MedRen yêu cầu cắt giảm đạm xuống mức 0,8 g/kg thể trọng/ngày, khống chế lượng muối ở mức 6 g/ngày và giữ phốt pho dưới 800 mg/ngày [1]. Bằng cách điều chỉnh này, chế độ ăn mới đạt độ an toàn cho người bệnh thận mạn giai đoạn 3 [1]. Tổng quan năm 2025 cũng chỉ ra các chế độ ăn giảm đạm dưới 0,6 g/kg/ngày giúp giảm gánh nặng chuyển hóa nitơ và làm chậm tiến triển phải lọc máu [3].
Bằng chứng phòng ngừa: Hiệu quả ở người chưa suy giảm nặng
Nếu đối với bệnh nhân thận nặng cần theo dõi sát sao, thì ở cộng đồng và nhóm bệnh tim mạch, chế độ Địa Trung Hải lại cho thấy nhiều tác động tích cực.
Một nghiên cứu dịch tễ học công bố năm 2017 theo dõi 1.212 người trưởng thành từ 30 đến 71 tuổi tại Tehran trong 6 năm [4]. Dữ liệu ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh thận mạn mới trong thời gian này là 19% [4]. Khi phân tích hồi quy đa biến có hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu, nhóm người tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải cao nhất có nguy cơ mắc bệnh thận mạn thấp hơn 51% so với nhóm thấp nhất (OR = 0,49; khoảng tin cậy 95%: 0,30–0,82) [4]. Ngay cả sau khi hiệu chỉnh thêm chỉ số lọc cầu thận ban đầu, tỷ lệ này vẫn giảm đáng kể (OR = 0,53; khoảng tin cậy 95%: 0,31–0,91) [4].
Tương tự, một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu năm 2022 tại Tây Ban Nha trên 975 người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên), theo dõi từ 2008–2010 đến năm 2015 [5]. Trong 104 trường hợp ghi nhận suy giảm chức năng thận (mức lọc cầu thận giảm từ 1 mL/phút/1,73 m2 mỗi năm trở lên), nhóm tuân thủ cao theo thang điểm MEDAS có nguy cơ suy giảm thấp hơn rõ rệt so với nhóm tuân thủ thấp (tỷ số nguy cơ OR = 0,52; khoảng tin cậy 95%: 0,29–0,95) [5]. Phân tích theo mô hình thực phẩm 36 nhóm cũng cho thấy mức giảm tương đương ở nhóm tuân thủ cao nhất (OR = 0,47; khoảng tin cậy 95%: 0,23–0,96) [5].
Ngoài ra, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên CORDIOPREV năm 2022 trên 1.002 bệnh nhân mắc bệnh mạch vành theo dõi suốt 5 năm [6]. Nghiên cứu so sánh chế độ ăn Địa Trung Hải giàu dầu ô liu nguyên chất với chế độ ăn ít béo giàu carbohydrate phức hợp [6]. Dù chức năng lọc cầu thận suy giảm dần theo thời gian ở cả hai nhóm do lão hóa và tiến triển bệnh lý (p < 0,001), nhóm dùng chế độ ăn Địa Trung Hải có mức sụt giảm thấp hơn đáng kể ở phân nhóm kèm đái tháo đường týp 2 (p = 0,040) và trên toàn bộ quần thể thử nghiệm (p = 0,033) [6].
Dù vậy, một nghiên cứu cắt ngang năm 2021 tại Úc trên 99 người cao tuổi (73,2 ± 10,5 tuổi) mắc bệnh thận mạn giai đoạn 3–5 chưa lọc máu cho thấy việc áp dụng lối sống này chỉ ở mức trung bình đến thấp, với điểm số MEDLIFE bình quân là 11,33 ± 3,31 [7]. Điểm số tuân thủ lối sống có liên quan thuận với tình trạng có việc làm (r = 0,30, p = 0,004) [7]. Việc hạn chế đồ uống có đường đi đôi với huyết áp tâm trương thấp hơn (r = 0,32, p = 0,002), ăn uống chừng mực gắn liền với nồng độ glucose ngẫu nhiên thuận lợi (r = 0,21, p = 0,043), còn thói quen dùng trên hai bữa phụ mỗi tuần lại liên quan đến chỉ số HbA1c (r = 0,29, p = 0,037) và LDL-cholesterol (r = 0,41, p = 0,002) [7]. Đáng chú ý, việc ăn cùng người khác có tỷ lệ trầm cảm thấp hơn (chi2 = 5,975, p = 0,015) [7].
Hiểu lầm thường gặp khi áp dụng chế độ Địa Trung Hải
Nhiều người lầm tưởng rằng chế độ ăn Địa Trung Hải càng ăn nhiều rau xanh, củ quả và các loại hạt thì càng tốt cho cơ thể mà không cần giới hạn số lượng. Thực tế, việc dung nạp một lượng lớn hạt khô, ngũ cốc và rau họ đậu trong thời gian ngắn có thể làm tăng gánh nặng phốt pho và kali, điều rất bất lợi cho người suy giảm chức năng lọc [1].
Một hiểu lầm phổ biến khác là chế độ ăn Địa Trung Hải có thể dùng chung một công thức cho mọi đối tượng ở mọi giai đoạn sức khỏe. Các nghiên cứu tổng quan khẳng định việc can thiệp dinh dưỡng cho bệnh nhân thận đòi hỏi phải cá nhân hóa theo từng người chứ không thể rập khuôn theo thói quen của người khỏe mạnh [5, 7]. Thiếu sự kiểm soát về chỉ số đạm và vi chất dễ khiến người bệnh gặp rối loạn thăng bằng điện giải [1].
3 nhóm cần lưu ý và thận trọng
Nhóm đầu tiên là người mắc bệnh thận mạn giai đoạn từ trung bình đến nặng (giai đoạn 3–5 chưa lọc máu hoặc đang lọc máu) [1, 3]. Người bệnh ở nhóm này bị suy giảm bài tiết kali, natri và phốt pho, do đó việc nạp ồ ạt thực vật giàu khoáng chất đòi hỏi phải có sự giám sát của chuyên gia dinh dưỡng và tính toán lượng đạm chính xác [2, 5].
Nhóm thứ hai là người có nguy cơ rối loạn điện giải hoặc tăng kali huyết. Dù nghiên cứu can thiệp thử nghiệm ngắn hạn cho thấy lượng kali máu không tăng đột biến nếu thực đơn được kiểm soát kỹ, việc tự ý gia tăng thực phẩm chứa kali ngoài bữa ăn kiểm định vẫn có thể gây nguy cơ tiềm ẩn [2]. Do đó, người có chỉ số kali máu không ổn định cần hết sức thận trọng khi tăng tỷ trọng hạt và củ quả.
Nhóm thứ ba là những người đang mang đa bệnh lý chuyển hóa phức tạp kèm đái tháo đường tiến triển hoặc suy giảm chức năng đa cơ quan [3, 6]. Mặc dù thực đơn Địa Trung Hải mang lại lợi ích làm chậm suy giảm lọc cầu thận ở người đái tháo đường có bệnh tim mạch, việc dung nạp không đúng tỷ lệ các thành phần carbohydrate và đạm thực vật vẫn cần sự tinh chỉnh cụ thể trên từng cá nhân [6, 7].
Cần lưu ý rằng đối với các vấn đề chuyên biệt như tương tác giữa thực phẩm giàu vitamin K với một số loại thuốc điều trị hoặc nguy cơ trên phụ nữ mang thai, tài liệu nghiên cứu hiện tại chưa cung cấp dữ liệu trực tiếp, do đó người dùng thuộc các trường hợp này không nên tự ý suy đoán mà cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa.
Gợi ý điều chỉnh an toàn trong đời sống
Người có bệnh nền suy thận hoặc suy giảm chức năng lọc muốn áp dụng lối sống Địa Trung Hải không nên làm theo các công thức ăn uống tự phát trên mạng xã hội. Thay vào đó, cần tham khảo mô hình điều chỉnh đã được nghiên cứu như MedRen [1].
Theo mô hình này, lượng đạm nên được giữ ở mức khoảng 0,8 g/kg cân nặng mỗi ngày, lượng muối không vượt quá 6 g/ngày và tổng lượng phốt pho tiêu thụ dưới 800 mg/ngày [1]. Trong trường hợp chức năng thận suy giảm nặng, chế độ giảm đạm xuống mức dưới 0,6 g/kg/ngày có thể được cân nhắc dưới sự chỉ định chuyên môn nhằm giảm gánh nặng chuyển hóa urê và bảo tồn chức năng thận còn lại [3]. Đồng thời, người có bệnh mạn tính cần thăm khám định kỳ, làm xét nghiệm máu kiểm tra nồng độ kali, phốt pho và chỉ số lọc cầu thận để điều chỉnh tỷ lệ rau củ cho phù hợp [1, 2].
Chế độ ăn Địa Trung Hải thực sự mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe tim mạch và có giá trị bảo vệ chức năng thận ở người khỏe mạnh hoặc giai đoạn phòng ngừa ban đầu [4, 6, 8]. Tuy nhiên, với người đã có bệnh thận mạn hoặc rối loạn chuyển hóa vi chất, chế độ này cần được tính toán cá nhân hóa và theo dõi chặt chẽ thay vì áp dụng nguyên bản [2, 5].
