Nhiều bệnh nhân mắc chứng cổ trướng, tràn dịch màng phổi thường tìm đến các bài thuốc dân gian trục thủy với mong muốn rút dịch nhanh. Cam toại (Euphorbia kansui) là vị thuốc cổ truyền nổi tiếng với tác dụng tả hạ, trục thủy cực mạnh trong các chứng báng nước. Tuy nhiên, ranh giới giữa hiệu quả đẩy nước và nguy cơ ngộ độc cấp tính đường tiêu hóa của dược liệu này rất mong manh.

Các bằng chứng hiện đại cho thấy cam toại có tác dụng giảm dịch nhưng độc tính trên ruột, gan vô cùng nghiêm trọng. Đa số dữ liệu hiện nay dừng lại ở cấp độ tế bào và mô hình động vật, chưa có đủ thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn bảo đảm an toàn trên người. Người bệnh tuyệt đối không tự ý dùng cam toại chữa tràn dịch.

Cơ chế trục thủy và nguy cơ ngộ độc tiêu hóa

Trong y học cổ truyền, cam toại được xếp vào nhóm thuốc công hạ trục thủy, chuyên dùng cho các trường hợp phù thũng nặng, cổ trướng, bí tiểu [1], [2]. Vị thuốc này chứa nhiều hoạt chất kích thích mạnh, ép cơ thể tống tháo lượng nước ứ đọng qua phân và nước tiểu nhờ tác dụng xổ mạnh và lợi tiểu [1], [3].

Cơ chế gây độc của cam toại bắt nguồn từ chính các hợp chất diterpene và triterpene đặc trưng [3], [4]. Khi vào đường tiêu hóa, các diterpene gây kích ứng niêm mạc miệng, da và ruột [3]. Chúng tấn công trực tiếp vào hàng rào biểu mô ruột, gây tổn thương tế bào cấp tính, dẫn đến tình trạng tiêu chảy dữ dội, đau bụng, mất nước và kiệt sức nghiêm trọng nếu không kiểm soát được liều dùng.

Nghiên cứu trên động vật về khả năng rút dịch báng

Để làm rõ tác dụng trục thủy báng nước, nghiên cứu năm 2018 áp dụng chiến lược chuyển hóa kết hợp dược lý mạng trên chuột mang cổ trướng ác tính được xử lý bằng cam toại sao giấm (V-kansui) [5]. Kết quả phân tích huyết thanh và nước tiểu bằng sắc ký lỏng siêu cao áp ghép khối phổ (UPLC-Q-TOF/MS) sàng lọc được 16 chất chuyển hóa quan trọng [5]. Các chất này can thiệp vào quá trình chuyển hóa axit arachidonic, sinh tổng hợp hormone steroid và axit mật nguyên phát [5]. Cơ chế này giúp giảm viêm và điều hòa hệ thống renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) để hỗ trợ điều trị cổ trướng ác tính trên chuột [5]. Nghiên cứu xác định được 17 hợp chất tiềm năng cùng 6 mục tiêu then chốt gồm HSP90AA1, ANXA2, PRDX6, PCNA, SOD2 và ALB [5].

Một nghiên cứu khác năm 2018 tiến hành đánh giá độc tính và hiệu lực của các phân đoạn cam toại sao giấm (VEK) trên chuột cống Wistar đực SPF mang khối u Walker-256 gây tràn dịch màng bụng ác tính (MAE) [1]. Mô hình MAE cho thấy tổn thương gan và dạ dày-ruột rõ rệt [1]. Các nhà khoa học đã đo lường thể tích dịch cổ trướng, thể tích nước tiểu, điện giải niệu (Na+, K+, Cl-), độ pH, các cytokine gây viêm (IL-2, IL-6, TNF-alpha, IFN-gamma, VEGF) và biểu hiện protein AQP8 ở đường tiêu hóa để xác định hiệu quả [1]. Đồng thời, các chỉ số độc tính gan (AST, ALT), tổn thương oxy hóa (GSH, MDA, LDH, SOD) cùng tín hiệu viêm và chết rụng tế bào (caspase-3, -8, -9, Bcl-2, Bax) ở ruột cũng được ghi nhận [1].

Bằng chứng về tổn thương ruột và tế bào gan

Mặc dù có khả năng đào thải dịch, độc tính của cam toại đối với hệ tiêu hóa đã được chứng minh trực tiếp ở cấp độ tế bào. Nghiên cứu năm 2015 kiểm tra tác động của hợp chất 3-O-(2'E,4'Z-decadienoyl)-20-O-acetylingenol (3EZ,20Ac-ingenol) chiết từ cam toại lên tế bào biểu mô ruột chuột (tế bào IEC-6) [6]. Kết quả cho thấy hợp chất này làm giảm khả năng sống của tế bào ruột phụ thuộc vào liều, với giá trị IC50 là 5,74 microgam/mL [6].

Hợp chất trên kích hoạt sự chết rụng tế bào biểu mô ruột qua con đường ty thể: gia tăng các gốc oxy hóa phản ứng (ROS), phá vỡ điện thế màng ty thể (MMP), giải phóng cytochrome c vào dịch bào, tăng biểu hiện Bax, AIF, Apaf-1 và ức chế Bcl-2 [6]. Quá trình này kích hoạt dòng thác caspase-3, 8, 9 và gây dừng chu kỳ tế bào ở pha G2/M [6]. Đây là minh chứng rõ ràng giải thích tại sao cam toại gây tổn thương ruột cấp tính [6].

Không chỉ gây độc đường ruột, một diterpenoid khác từ rễ cam toại là lingenol cũng được chứng minh gây độc tế bào gan L-O2 năm 2016 [7]. Lingenol ức chế tăng sinh tế bào, gây dừng chu kỳ tế bào ở pha G0/G1 và kích hoạt apoptosis ty thể [7]. Hợp chất này phá vỡ chức năng ty thể, kích thích tạo ROS, giảm tỷ lệ Bcl-2/Bax, giải phóng cytochrome c và kích hoạt caspases dẫn đến tổn thương ADN do AIF [7]. Rễ cam toại có độc tính trên gan rất cao, cản trở ứng dụng lâm sàng [7].

Giảm độc bằng kỹ thuật sao giấm: Lợi ích và giới hạn

Từ thời cổ đại, phương pháp sao giấm đã được dùng nhằm giảm bớt tính độc của cam toại [5], [1], [2]. Nghiên cứu năm 2022 phân tích thành phần hóa học của cam toại sống và cam toại sao giấm bằng UHPLC phân giải cao, phát hiện 31 thành phần hóa học và đề xuất cấu trúc cho 28 chất [2].

Kết quả cho thấy sau khi sao giấm, nhóm diterpenoid dạng jatrophane giảm rõ rệt, trong khi nhóm diterpenoid dạng ingenane vẫn được bảo tồn [2]. Phân tích mục tiêu thuốc in silico chỉ ra rằng các diterpenoid dạng jatrophane giảm đi chính là nhóm liên quan đến độc tính mạnh qua cholinesterase và mitogen-activated protein kinases [2]. Ngược lại, diterpenoid dạng ingenane giữ lại có tác dụng điều trị liên quan đến carbonic anhydrase [2]. Dù sao giấm giúp giảm bớt độc tính so với dạng tươi sống, dược liệu này vẫn tiềm ẩn độc tính đường ruột và gan nhất định, không thể xem là an toàn tuyệt đối [5], [1], [2].

Cấm kỵ kết hợp: Nguy cơ từ bài thuốc phối hợp cam toại và cam thảo

Trong thực tế dân gian, sự nhầm lẫn khi phối ngũ dược liệu có thể dẫn tới tử vong. Cam toại và cam thảo là một trong những cặp tương phản kinh điển ("thập bát phản") của y học cổ truyền [8]. Nghiên cứu chuyển hóa năm 2017 trên chuột tràn dịch màng phổi ác tính (MPE) phân tích tác động của việc dùng đơn độc và kết hợp hai vị thuốc này [8]. Kết quả phát hiện 7 dấu ấn sinh học tiềm năng liên quan đến chuyển hóa axit selenoamino và chuyển hóa nicotinate/nicotinamide [8].

Nghiên cứu chỉ ra cam toại dùng riêng hoặc phối hợp với cam thảo theo tỷ lệ 4:1 có thể điều chỉnh các con đường chuyển hóa bất thường về trạng thái bình thường [8]. Tuy nhiên, khi kết hợp ở tỷ lệ 1:4 (cam toại 1 phần, cam thảo 4 phần), tác dụng đảo ngược hoàn toàn và làm tăng nghiêm trọng độc tính [8]. Việc phối hợp sai liều lượng làm mất tác dụng trục dịch và đe dọa trực tiếp tính mạng [8].

Hiểu lầm thường gặp và những ai cần tuyệt đối tránh xa

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng thuốc thảo dược luôn lành tính, có thể dùng cam toại tươi sắc uống tại nhà để tự rút dịch cổ trướng hay màng phổi. Thực tế, gần 100 hợp chất phân lập từ cam toại đều mang dược tính kích ứng mạnh [3]. Dùng tùy tiện cam toại sống có thể gây bỏng rát miệng, viêm loét hoại tử niêm mạc ruột, suy gan cấp và mất nước trụy mạch [6], [7], [3].

Dược liệu này tuyệt đối cấm kỵ đối với:

Áp dụng thực tế và khuyến cáo an toàn

Hiện tại, bằng chứng khoa học về việc dùng cam toại điều trị tràn dịch màng bụng, màng phổi ác tính chỉ mới dừng ở thử nghiệm in vitro trên tế bào và mô hình in vivo trên chuột mang u ác tính [5], [1], [6], [8]. Hoàn toàn chưa có hướng dẫn lâm sàng đại trà cho phép người bệnh tự mua và sử dụng vị thuốc này.

Người bệnh khi xuất hiện triệu chứng tràn dịch báng bụng hoặc khó thở do tràn dịch màng phổi cần đến bệnh viện khám chuyên khoa ung bướu, tiêu hóa hoặc hô hấp để xác định nguyên nhân cốt lõi. Việc điều trị phải dựa trên phác đồ y khoa hiện đại như chọc hút dịch giải áp, dùng thuốc lợi tiểu chuẩn hóa hoặc điều trị trúng đích theo nguyên nhân. Bất kỳ can thiệp thảo dược nào đều phải thông qua chỉ định, giám sát của bác sĩ y học cổ truyền có chứng chỉ hành nghề, tuyệt đối không tự chế biến cam toại thô tại nhà.