Nhiều người đi mua mạch môn thường gặp tình trạng củ giống nhau nhưng tên gọi khác nhau. Đôi khi người bán gọi là mạch môn đông, nơi khác lại gọi cao cẳng hoặc cao cẳng trung gian khiến người dùng hoang mang. Liệu cao cẳng trung gian và mạch môn có phải là một dược liệu hay không?
Câu trả lời dựa trên phân tích thực vật học là không: mạch môn chính danh (Ophiopogon japonicus) và cao cẳng trung gian (Ophiopogon intermedius) là hai loài khác nhau thuộc cùng chi Ophiopogon. Dù củ có hình thức tương đồng, giá trị dược liệu và mức độ nghiên cứu hóa học giữa hai loài có sự chênh lệch rất lớn.
Sự khác biệt về thành phần hóa thực vật
Chi Ophiopogon tích lũy nhiều nhóm chất chuyển hóa thứ cấp ở phần củ rễ, rễ chùm và thân lá, bao gồm saponin steroid, flavonoid, polysacarit, phenol và axit hữu cơ [1]. Trong số này, saponin steroid là nhóm hoạt chất lõi đóng vai trò dược lý chính, kế tiếp là nhóm flavonoid [1].
Khi xét riêng từng loài, tổng số hợp chất chuyển hóa đã được phân lập từ các loài trong nhóm liriopogons là 337 chất [1]. Mạch môn (Ophiopogon japonicus) được nghiên cứu hóa học rất toàn diện và chiếm phần lớn lượng hợp chất này [1]. Ngược lại, cao cẳng trung gian (Ophiopogon intermedius) gần như chưa được khai thác, chỉ mới ghi nhận duy nhất 1 chất chuyển hóa được phân lập [1].
So sánh hàm lượng saponin steroid cốt lõi
Phân tích cấu hình tuyệt đối bằng phổ quang phổ (NMR, CD, MS) đã phân lập và xác định đặc tính của 156 saponin steroid từ củ và rễ của các loài thuộc chi này [1]. Đây là những thành phần mang lại công năng chính của vị thuốc trong y học.
Trong 156 saponin steroid được ghi nhận, mạch môn O. japonicus sở hữu tới 88 loại saponin khác nhau [1]. Các hoạt chất nổi bật như Ophiopogon D (OP-D), Ophiopogon A, B và DT-13 đều có mặt ở loài này và được đánh giá hoạt tính sinh học phổ rộng [1]. Trong khi đó, ở cao cẳng trung gian O. intermedius, các nhà khoa học mới chỉ phân lập được 1 saponin steroid duy nhất [1]. Sự chênh lệch 88 so với 1 cho thấy kho tàng hoạt chất của mạch môn phong phú hơn hẳn.
Nghiên cứu dược lý sâu rộng trên mạch môn
Dược chất Ophiopogonin D (OP-D) chiết xuất từ Ophiopogon japonicus đã được chứng minh có nhiều tác động sinh học qua rà soát hệ thống dữ liệu y khoa đến ngày 1/1/2024 [2]. Hoạt chất này thể hiện các tiềm năng bảo vệ tim mạch, bảo vệ xương, điều hòa miễn dịch, kháng viêm, chống xơ vữa động mạch, hỗ trợ giảm gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) và chống khối u [2].
Bên cạnh saponin, chuỗi polysacarit của mạch môn (OJPS) cũng là hoạt chất sinh học chủ chốt với trọng lượng phân tử dao động từ 2,48 đến 324,7 kDa [3]. OJPS điều hòa cấu trúc hệ vi sinh đường ruột, củng cố hàng rào biểu mô ruột và tạo tương tác hỗ trợ hạ đường huyết [3]. Hơn nữa, dạng fructosan graminan trong OJPS (trọng lượng phân tử trung bình 3400 Da) còn biểu hiện hoạt tính chống thiếu máu cơ tim [4]. Khi phối hợp tá dược natri caprat trên mô hình thử nghiệm chuột cống, sinh khả dụng đường ruột của phân đoạn này được cải thiện từ 5,6 đến 20,8 lần [4].
Vị thế dược liệu của cao cẳng trung gian
Trong Dược điển Nhật Bản, rễ củ dùng làm vị thuốc Bakumondo (Mạch môn đông) trị ho, đờm, khát nước chỉ công nhận duy nhất nguồn gốc từ loài Ophiopogon japonicus [5]. Các loài khác không được phép sử dụng danh nghĩa này một cách hợp pháp trong hệ thống dược liệu chính quy tại Nhật Bản [5].
Do mới chỉ phát hiện 1 hợp chất đơn lẻ, cao cẳng trung gian O. intermedius thiếu hoàn toàn các bằng chứng thử nghiệm lâm sàng và dữ liệu độc lý học [1]. Dù mọc hoang dã hoặc được dùng theo kinh nghiệm bản địa, O. intermedius chưa thể thay thế vai trò điều trị chuyên sâu của mạch môn chính quy.
Thách thức nhận diện và kiểm soát chất lượng
Hình thái củ giữa các loài cùng chi Ophiopogon hoặc họ hàng gần như Liriope rất giống nhau, khó phân biệt bằng mắt thường sau khi thu hoạch và sấy khô [5]. Để phân biệt chuẩn xác loài, các nhà khoa học đã ứng dụng trình tự gen lạp thể rbcL kết hợp enzyme cắt giới hạn để định danh ADN, tránh tình trạng trà trộn nguyên liệu [5].
Ngay cả trong nội bộ loài mạch môn O. japonicus, chất lượng dược liệu cũng biến thiên theo vùng sinh thái. Nghiên cứu trên 24 mẫu nguồn gen hoang dã tại bồn địa Tứ Xuyên bằng phân tích thành phần chính (PCA) và phân tích cụm cho thấy chất lượng củ có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương, trong đó mẫu vùng Tử Dương cho chất lượng cao nhất, còn Đạt Châu thấp nhất [6]. Nghiên cứu trên 3.657 mẫu mạch môn Trung Quốc bằng phổ cận hồng ngoại (NIR) kết hợp thuật toán SIMCA đạt độ chính xác phân định xuất xứ Chiết Giang lên tới 100% [7]. Điều này nhấn mạnh hoạt chất dược liệu phụ thuộc chặt chẽ vào loài gốc lẫn điều kiện thổ nhưỡng.
Ai nên thận trọng khi dùng dược liệu mạch môn?
Dù mạch môn chứa nhiều polysacarit và saponin quý, người bệnh có đường tiêu hóa kém, tỳ vị hư hàn hoặc đang bị tiêu chảy cần thận trọng khi tự ý sắc uống liều cao. Hoạt chất saponin và chuỗi đường phức có thể làm chậm tiêu hoặc kích thích nhu động ruột nếu cơ địa không phù hợp.
Đặc biệt, người đang dùng thuốc điều trị tim mạch, hạ đường huyết hoặc thuốc ức chế miễn dịch phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng. Tuyệt đối không tự ý đào hái rễ cây cao cẳng ngoài tự nhiên để làm thuốc vì nguy cơ nhầm lẫn loài, thiếu liều lượng chuẩn xác và chưa rõ độc tính tích lũy.
Lời khuyên áp dụng trong đời sống
Người tiêu dùng khi tìm mua vị thuốc mạch môn đông phục vụ bồi bổ, giảm ho hay nấu nước mát giải nhiệt nên chọn các nhà thuốc y học cổ truyền uy tín, có hóa đơn và kiểm định nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Cần yêu cầu đúng tên khoa học Ophiopogon japonicus trên bao bì thay vì các loài cao cẳng thu hái tự do.
Không nên tin vào những lời quảng cáo củ rừng tự nhiên không rõ định danh thực vật. Việc kiểm soát chất lượng bằng cảm quan rất khó chính xác, do đó chỉ sử dụng nguồn dược liệu đã được chuẩn hóa để bảo đảm an toàn sinh học và hiệu quả cải thiện sức khỏe.


